Nam Mô Hoàng Thiên Thánh Mẫu . Nam Mô Thuỷ Tổ Quốc Mẫu-Bà Chúa Tài Lộc Cứu Độ Muôn Chúng Sinh Thoát Khổ Nạn , Phúc Lộc Thọ Trường An lạc Hạnh Phúc . Nguyện Cầu Thuỷ Tổ Quốc Mẫu Chiếu Ánh Hào Quang Soi Sáng Đường Tu Hành , Nguyện Cho Chúng Sinh Sớm Thành Đạo Qủa . Nguyện Cầu Cô Sáu Sơn Trang ( Cô Bản Đền ) Độ Cho Muôn Dân , Bệnh tật Tiêu Trừ . Nam Mô Hoàng Thiên Thánh Mẫu Chứng Minh Nam Mô Thuỷ Tổ Quốc Mẫu-Bà Chúa Tài Lộc Chứng Minh
Trang chủ . video ,diễn đàn ,thành viên ,chữa bệnh ung thư,liên kết
Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018
Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018
TRÙNG TANG, cách tính, cách hóa giải, những điều cần biết!
KHÁI NIỆM:
Theo kinh nghiệm, cổ nhân cho rằng trong thực tế, với mỗi người chết sẽ xảy ra các trường hợp như sau:
Như vậy, "Trùng tang là tình trạng trong thời gian chưa mãn Đại Tang, hoặc chưa mãn tang bà con gần, lại tiếp theo 1 cái đại tang hoặc 1 cái đại tang gần khác". Hoặc có thể gọi trùng tang là tang chủ phải mang ít nhất 2 vòng khăn tang trong cùng một thời điểm. Trong nhà, người thân vừa nằm xuống lại có nguy cơ liên táng là đáng lo ngại. Dân gian cho rằng trùng tang là người qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải để tránh nguy cơ.
TRONG ĐÓ:
- Trùng tang ngày là nặng nhất (Tam xa-7 người chết theo),
- Trùng tang Tháng là nặng nhì (Nhị xa-5 người chết theo),
- Trùng tang Giờ là nặng thứ ba (Nhất xa-3 người chết theo),
- Trùng tang Năm là nhẹ nhất.
CÁCH TÍNH:
Mất dưới 10 tuổi không tính trùng tang.
Trường hợp 1: Trùng tang có thể là thời gian lúc mất, trùng năm (như người tuổi Dần mất năm Dần), trùng ngày (như người tuổi Sửu mất ngày Sửu), trùng giờ (như người tuổi Ngọ mất giờ Ngọ)
Trường hợp 2: Cách tính phổ biến (dựa trên tuổi âm lịch):
Nếu các cung tuổi, tháng, ngày, giờ gặp các cung:
Chỉ cần gặp được một cung Nhập mộ là coi như yên lành, không cần phải làm lẽ trấn trùng tang (một Nhập mộ xoá được 3 Trùng tang). Hoặc được 2 Thiên di thì cũng không lo vì “nhị thiên di sát nhất trùng” (2 Thiên di xoá được 1 Trùng tang)
Ví dụ 1:
Tổng hợp nhanh:
Chúng ta có thể dùng bảng để tính, hoặc dùng bàn tay để bấm Trùng tang cũng được kết quả như trên.
Trường hợp 3: (trùng tang do chôn sai ngày)
Việc tính trùng tang phải xem người chết chôn vào ngày nào nữa, nếu chết chôn:
Nếu người chết mà chôn vào các ngày trên thì được tính trùng tang, cần phải giải ngay.
Trường hợp 4: Trùng tang liên táng
Chết ngày giờ trên gọi là ngày giờ kiếp sát (theo Tứ trụ). Dân gian gọi là Cướp Sát.
Trường hợp 5: Mất vào ngày thần Trùng
CÁCH HÓA GIẢI:
Xin chia sẻ một số cách hóa giải dân gian thường dùng:
1. Xin tro hóa vàng tại chùa, và rải đều thành lớp dưới hố trước khi hạ quan tài.
2. Gửi vong lên chùa để “nhốt trùng”. Những ngôi chùa được chọn phải là chùa có uy tín trong việc giữ vong.
3. Dùng bài thuốc trấn trùng với các vị như thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào túi rồi yểm trong quan tài
4. Dùng các bộ linh phù để trấn bằng cách dùng linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên giữa ngực, giữa rốn, hoặc lót dưới quan tài
5. Dùng bài thuốc kết hợp giữa Sớ, Phù Bắc Tông và Kỳ nam để xông vào mộ và người sống, để cầu siêu, giải thoát cho trùng, biến từ âm binh thành thiên binh
6. Áp dụng phương pháp làm huyệt giả, đổ tỏi vào huyệt khi lấp đất hay dùng thần chú, Bát quái trận đồ trấn âm trạch để hoá giải
7. Tìm 1 bộ bài Tổ tôm cũ (tức là đã chơi cũ rồi) bỏ mấy con Bát sách đi, số còn lại lấy rải đều ở 4 góc quan tài trong lúc đang liệm
Song, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về bản chất của hiện tượng “trùng tang”. Ngay đến một số nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người cũng không muốn đưa ra bất kỳ phát biểu nào xung quanh hiện tượng này.
Theo kinh nghiệm, cổ nhân cho rằng trong thực tế, với mỗi người chết sẽ xảy ra các trường hợp như sau:
- THIÊN DI: là dấu hiệu có sự di dời hình thức tồn tại do trời định, là lúc "trời" đưa đi. Dự báo con cháu sẽ phải chia ly, tài sản phân tán, tranh chấp kiện tụng.
- NHẬP MỘ: là dấu hiệu phải "ra đi", "nằm xuống" vĩnh viễn, không còn liên quan gì đến trần ai. Thể hiện sự an lành, yên nghỉ. Chỉ cần một “nhập mộ” của tuổi hoặc tháng, ngày giờ là được coi là tốt. Dự báo vong chết không phạm trùng tang, mãn kiếp sa bà, con cháu làm ăn thịnh vượng, phát tài , sai lộc.
- TRÙNG TANG: Là dấu hiệu "ra đi" không hợp số phận, không dứt khoát, hãy còn "ảnh hưởng" tới trần ai. Dự báo sẽ có người thân chết theo. Theo quan niệm xưa, nếu gặp phải trùng tang mà không có “nhập mộ” nào thì cần phải mời người có kinh nghiệm làm lễ “trấn trùng tang”.
Như vậy, "Trùng tang là tình trạng trong thời gian chưa mãn Đại Tang, hoặc chưa mãn tang bà con gần, lại tiếp theo 1 cái đại tang hoặc 1 cái đại tang gần khác". Hoặc có thể gọi trùng tang là tang chủ phải mang ít nhất 2 vòng khăn tang trong cùng một thời điểm. Trong nhà, người thân vừa nằm xuống lại có nguy cơ liên táng là đáng lo ngại. Dân gian cho rằng trùng tang là người qua đời gặp ngày giờ xấu, cần hoá giải để tránh nguy cơ.
TRONG ĐÓ:
- Trùng tang ngày là nặng nhất (Tam xa-7 người chết theo),
- Trùng tang Tháng là nặng nhì (Nhị xa-5 người chết theo),
- Trùng tang Giờ là nặng thứ ba (Nhất xa-3 người chết theo),
- Trùng tang Năm là nhẹ nhất.
CÁCH TÍNH:
Mất dưới 10 tuổi không tính trùng tang.
Trường hợp 1: Trùng tang có thể là thời gian lúc mất, trùng năm (như người tuổi Dần mất năm Dần), trùng ngày (như người tuổi Sửu mất ngày Sửu), trùng giờ (như người tuổi Ngọ mất giờ Ngọ)
Trường hợp 2: Cách tính phổ biến (dựa trên tuổi âm lịch):
- Dùng 12 cung địa chi trên bàn tay để tính. Nam khởi từ DẦN tính theo chiều thuận, Nữ khởi từ THÂN tính theo chiều nghịch.
- TUỔI: Bắt đầu là 10 tuổi, cung tiếp theo là 20 tuổi, cung tiếp là 30 tuổi, … tính đến tuổi chẵn chục của tuổi người mất. Sau đó cung tiếp theo là tuổi lẻ tính đến tuổi của người mất (1,2,3), gặp ở cung nào thì tính là cung tuổi.
- THÁNG: Từ cung tuổi, tính cung tiếp theo là tháng 1, tính lần lượt đến tháng mất, gặp cung nào thì cung đó là cung tháng.
- NGÀY: Từ cung tháng, tính cung tiếp theo là ngày 1, tính lần lượt đến ngày mất, gặp cung nào thì tính cung đó là cung ngày.
- GIỜ: Từ cung ngày, tính cung tiếp theo là giờ tý, tính lần lượt đến giờ mất, gặp cung nào thì tính cung đó là cung giờ Chú ý giờ âm lịch chỉ chia một ngày ra 12 giờ: Tý (23-01 giờ), Sửu (01-03 giờ)...Hợi (21-23 giờ).
Nếu các cung tuổi, tháng, ngày, giờ gặp các cung:
- Dần – Thân – Tị – Hợi: thì là gặp cung Trùng Tang
- Tý – Ngọ – Mão – Dậu: thì là gặp cung Thiên Di
- Thìn – Tuất – Sửu – Mùi: thì là gặp cung Nhập Mộ.
Chỉ cần gặp được một cung Nhập mộ là coi như yên lành, không cần phải làm lẽ trấn trùng tang (một Nhập mộ xoá được 3 Trùng tang). Hoặc được 2 Thiên di thì cũng không lo vì “nhị thiên di sát nhất trùng” (2 Thiên di xoá được 1 Trùng tang)
Ví dụ 1:
Tính cho cụ ông mất giờ Tý, ngày 3, tháng 3 thọ 83 tuổi.Ví dụ 2:
Cụ ông Khởi từ cung Dần tính chiều thuận: 10 tuổi ở Dần, 20 tuổi ở Mão, 30 tuổi ở Thìn… 80 tuổi ở Dậu, đến tuổi lẻ 81 ở Tuất, 82 ở Hợi, 83 ở Tí. Vậy cung tuổi là cung Tý là cung Thiên Di.
Tính tiếp tháng 1 là Sửu, tháng 2 ở Dần, tháng 3 ở Mão, vậy cung tháng là Mão là cung Thiên Di.
Tính ngày mồng 1 là Thìn, ngày mồng 2 là Tị, mồng 3 là Ngọ, vậy cung ngày là Ngọ gặp Thiên Di.
Tính tiếp cho giờ, giờ Tý tại Mùi, vậy cung giờ là cung Mùi được cung nhập mộ.
Tổng kết:
Năm: Thiên Di | Tháng: Thiên Di | Ngày: Thiên Di | Giờ: Nhập Mộ
Như vậy cụ ông có 3 cung thiên di, 1 cung nhập mộ. Vậy là hợp với lẽ trời và đất.
Nam mất năm 32 tuổi, giờ 3h sáng, ngày 6, tháng 2.
Đàn ông bấm từ cung Dần là 10, Mão 20, Thìn 30, Tị 31, Ngọ 32. Cung Thiên Di
Mất tháng 2 thì bấm tiếp là Mùi 1, Thân 2, Tháng Thuộc Trùng Tang Nhất Xa
Ngày 6 thì bấm tiếp là Dậu 1, Tuất 2, Hợi 3, Tý 4, Sửu 5, Dần 6. Ngày thuộc Trùng Tang Nhị Xa
Đến Giờ mất : mất 3h sáng ( Giờ Dần ) thì bấm tiếp là Mão ( tý ) Thìn ( sửu ) Tị ( Dần ) dừng tại đó xem Tị rơi vào Trùng Tang Tam Xa.
Tổng kết:Năm: Thiên Di | Tháng: Trùng tang | Ngày: Trùng tang | Giờ: Trùng tang
Như vậy cụ người mất rơi vào Trùng tang.
Ví dụ 3:
Nam 74 tuổi, chết tháng 4, ngày 3, giờ Mão thì ta bấm như sau
Bấm Năm : bắt đầu từ cung Dần là 10, Mão 20, Thìn 30, Tị 40, Ngọ 50, Mùi 60, Thân 70, Dậu 71, Tuất 72, Hợi 73, Tý 74. vậy là chết 74 tuổi vào Cung Tý. so với bảng tính ở trên Cung Tý là Thiên Di vậy là Năm Thiên Di.
Bấm Tháng : bắt đầu từ tháng 1 vào cung Sửu, tháng 2 dần, tháng 3 Mão, tháng 4 Thìn.vậy là chết tháng 4 vào cung Thìn. So với bảng tính ở trên là Nhập Mộ vậy là Tháng Nhập Mộ.
Bấm Ngày : Bắt đầu từ mồng 1 vào cung Tị, mồng 2 Ngọ, mồng 3 Mùi, vậy là chết ngày mồng 3 vào cung Mùi, so với bảng tính ở trên là Nhập Mộ vậy là Ngày Nhập Mộ.
Bấm Giờ : Bắt đầu từ giờ Tý vào cung Thân, giờ sửu (Dậu ), Giờ Dần ( Tuất ), giờ Mão ( Hợi ) vậy là chết vào giờ Mão rơi vào cung Hợi, so với bảng tính ở trên là Trùng Tang vậy là Giờ Trùng Tang.
Tổng Kết: Năm: Thiên Di |Tháng : Nhập Mộ | Ngày : Trùng Tang | Giờ : Trùng Tang.
Tổng hợp nhanh:
- Tý, Ngọ, Mão, Dậu nếu chết vào một trong các năm TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU thì rơi vào trùng tang;
- Hoặc: Dần, Thân, Tỵ, Hợi nếu chết vào một trong các năm DẦN, THÂN , TỴ, HỢI thì rơi vào trùng tang;
- Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nếu chết vào một trong các năm THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI có nghĩa là chết vào các năm “xung” (tứ hình xung) sẽ bị trùng tang.
Chúng ta có thể dùng bảng để tính, hoặc dùng bàn tay để bấm Trùng tang cũng được kết quả như trên.
Trường hợp 3: (trùng tang do chôn sai ngày)
Việc tính trùng tang phải xem người chết chôn vào ngày nào nữa, nếu chết chôn:
- Tháng giêng: ngày 7-19
- Tháng hai, tháng ba: ngày 6-18-30.
- Tháng tư :ngày 4-16-28.
- Tháng năm, tháng sáu: ngày 3-15-27.
- Tháng bảy: ngày 1-12-25.
- Tháng tám, tháng chín: ngày 12-24.
- Tháng mười: ngày 10-22.
- Tháng mười một - tháng chạp: ngày 9 -21.
Nếu người chết mà chôn vào các ngày trên thì được tính trùng tang, cần phải giải ngay.
Trường hợp 4: Trùng tang liên táng
- Tuổi Thân Tý Thìn chết năm tháng ngày giờ Tỵ.
- Tuổi Dần Ngọ Tuất chết năm tháng ngày giờ Hợi.
- Tuổi Tỵ Dậu Sửu chết năm tháng ngày giờ Dần.
- Tuổi Hợi Mão Vị chết năm tháng ngày giờ Thân.
Chết ngày giờ trên gọi là ngày giờ kiếp sát (theo Tứ trụ). Dân gian gọi là Cướp Sát.
- Tháng 1.2.6.9.12: Chết nhằm ngày Canh Dần hay Canh Thân là phạm Thần Trùng " Lục Canh Thiên Hình ". Nếu thêm thấy năm tháng cũng vậy là càng nặng.
- Tháng 3: Chết nhằm ngày Tân Tị hay Tân Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Tân Thiên Đình " , nếu gặp thêm năm , tháng nữa càng nặng hơn
- Tháng 4: Chết nhằm ngày Nhâm Dần hay Nhâm Thân là phạm Thần Trùng " Lục Nhâm Thiên Lao " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
- Tháng 5: Chết nhằm ngày Quý Tị hay Quý Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Quý Thiên Ngục " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
- Tháng 7: Chết nhằm ngày Giáp Dần hay Giáp Thân là pahm5 Thần Trùng " Lục Giáp Thiên Phúc " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
- Tháng 8: Chết nhằm ngày Ất Tị hay Ất Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Ất Thiên Đức " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
- Tháng 10: Chết nhằm ngày Bính Dần hay Bính Thân là phạm Thần Trùng " Lục Bính Thiên Uy ". nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
- Tháng 11: Chết nhằm ngày Đinh Tị hay Đinh Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Đinh Thiên Âm " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng
CÁCH HÓA GIẢI:
Xin chia sẻ một số cách hóa giải dân gian thường dùng:
1. Xin tro hóa vàng tại chùa, và rải đều thành lớp dưới hố trước khi hạ quan tài.
2. Gửi vong lên chùa để “nhốt trùng”. Những ngôi chùa được chọn phải là chùa có uy tín trong việc giữ vong.
3. Dùng bài thuốc trấn trùng với các vị như thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào túi rồi yểm trong quan tài
4. Dùng các bộ linh phù để trấn bằng cách dùng linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên giữa ngực, giữa rốn, hoặc lót dưới quan tài
5. Dùng bài thuốc kết hợp giữa Sớ, Phù Bắc Tông và Kỳ nam để xông vào mộ và người sống, để cầu siêu, giải thoát cho trùng, biến từ âm binh thành thiên binh
6. Áp dụng phương pháp làm huyệt giả, đổ tỏi vào huyệt khi lấp đất hay dùng thần chú, Bát quái trận đồ trấn âm trạch để hoá giải
7. Tìm 1 bộ bài Tổ tôm cũ (tức là đã chơi cũ rồi) bỏ mấy con Bát sách đi, số còn lại lấy rải đều ở 4 góc quan tài trong lúc đang liệm
Song, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về bản chất của hiện tượng “trùng tang”. Ngay đến một số nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người cũng không muốn đưa ra bất kỳ phát biểu nào xung quanh hiện tượng này.
Thầy Thiên Phúc
ĐT : 0967396549
Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018
PHƯƠNG HOA CÔNG CHÚA
Trên giải sông Hồng có ngôi đền thuộc thôn Nghi Xuyên xã Chí Tân, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Được nhà nước công nhận di tích lịch sử cấp Quốc Gia ( trong quần thể di tích lịch sử đình đền Cót). Cạnh đền phía Bắc có đền thờ Tứ Phủ, về phía Nam có đền thờ Mẫu hiệu Phương Hoa công chúa đời nhà Lê phong sắc trung đẳng thần - sinh vi đế nữ thị thần tiên, tạ vị trung đẳng Lưu Quốc Phả. Đền hình chữ Đinh nội cung ngoại sảnh, trong đền có nhiều cổ vật đồ đồng, sành , sứ, đồ gỗ, có bốn chiếc Ngai thờ, hai chiếc thờ Lão Ông, Lão Bà, hai chiếc thờ Đinh Lang và Hoàng Lang. Có bốn cánh cửa đời nhà Lý ban cho. Đục xuyên khổng bốn pho tượng văn tả trương ban Nguyễn Sáng và Lê Đẳng Tích, Trần Hưng hãy còn lưu giữ được, có ba hoành phi, một khảm trai vạn cổ anh linh, một bức thánh cung vạn tuế, một bức thượng đẳng linh từ. Có bức châm từ vua Tự Đức ban tặng. Trong ngọc phả đền có 20 sắc phong từ đời nhà Lý đến đời nhà Nguyễn. Vì thời gian quá lâu cho nên đã bị rách nát hiện còn 13 sắc phong những cổ vật quý hiếm. Vì đền xa làng cho nên kẻ xấu đã lấy trộm hiện nay chỉ còn những đồ quý hiếm bằng gỗ.
Xung quanh đền có hàng cây si bao trùm toàn bộ đền, từ xã trông như một khoảng rừng, đến nơi mới hiện ra là ngôi đền. Các nhà khảo cổ về thực vật cũng không rõ nguồn gốc từ đâu và có từ bao giờ. Đền cũ chiều dài 6m, chiều ngang là 4m xưa kia là nơi hoang vu rậm rạp quá trình phát triển của nhân dân thôn Nghi Xuyên, được phép của Bộ Văn hóa, đền xây dựng và tu xửa lại năm 2005.
Đền là nơi linh thiêng có tiếng trong vùng từ thời nhà Lê Trung Hưng đánh nhà Mạc, hàng năm mở hội vào ngày 10/2.
Hải Hưng ngày 10 tháng 6 năm 1995. Sao y bản chính, người dịch: Lão nghệ nhân Thành Thái giám đốc sở Tăng Bá Hoành. Thuộc đời nhà Lý:
Ở làng Thụy Trai huyện Vĩnh Thuận có ông bà Nguyễn Công, phúc hậu hiền lành nhưng muộn sinh nở, một hôm Thái Bà nằm mộng thấy sao rơi vào miệng bà sợ hãi nói với chồng. Nguyễn Công liền nói: " Nếu quả mộng như vậy tất trời cho sinh con, sự thực hư trong mộng hãy để nghiệm sau", được 100 ngày Thái Bà quả nhiên có mang đến kỳ mãn nguyệt khai hoa sinh ra một gái, sinh vào ngày 15 tháng 3 năm 1013 (Quý Sửu). Hình dung yểu điệu, mắt phượng mày ngài, mắt ngọc da trắng như Hằng Nga, môi son má phấn khi sinh thoang thoảng mùi hương xạ, ông bà rất yêu quý.
Tròn 3 tháng đặt tên là Hiếu Nương, đến khi 3 tuổi, ngày 5 tháng 9 năm ấy Thái Công mắc bệnh qua đời, Thái Bà làm lễ an táng. Sau 3 năm phục tang, Thái Bà có một người dì lấy chồng ở phường Thụy Trai, huyện Vĩnh Thuận làm nghề buôn bán vải tơ lụa ở chợ Vĩnh Thuận, Thái Bà và Hiếu Nương ở với dì. Hiếu Nương đã đến tuổi trăng tròn 17 như một bông hoa, mười phần xuân xắc mười phân vẹn mười, như chim xa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường, công dung ngôn hạnh, tứ đức vẹn toàn, cung thiên khóa ngọc thực gia nghiêng thành, trời âu đã định như ngọc còn đợi giá cao. Ngày nào đó vua Lý Thánh Tôn ra ngự ngoài thành mọi người tụ hội đến xem nhà vua, Vua Lý Thánh Tôn nhìn thấy Hiếu Nương đứng xem ở bên phải lề đường, thấy nàng dung nha rất đẹp nhà vua thầm nghĩ đây không phải là người thường quê có được cũng không phải là người con gái ở chốn Bồng Doanh thì cũng là một kiểu nương ở nơi Long Uyển. Vua rất đẹp ý hài lòng và sai sứ thần mang trầu cau đến hỏi cưới và nhà vua rước nàng về là thứ phi thứ 9.
Vua vui lòng sai lập cung tại phường Thụy Trai, cung chia làm 3 phần là Phúc Long mặt quay đầu về chầu tổ, đứng ở cổ rồng hai bên bờ chầu lại nhu non cao ở trước. Vua bèn chuẩn cho chỗ ấy là phường Thụy Trai là Thủ lệ. Từ đó Thủ Lệ nơi thượng uyển của nhà vua. Sau 3 năm Thái Bà lâm bệnh qua đời ở phường Thụy Trai nhà vua và bách quan đến làm lễ thụ tang. Qua 3 năm Hiếu Nương qua hồ tây tắm gội để vào chầu vua, trong lúc tắm gội thấy một con Rảo Long quấn chặt lấy Hiếu Nương lúc này Hiếu Nương bất tỉnh hôn mê, cung nữ rước Hiếu Nương về cung và từ đấy Hiếu Nương mang thai tới 14 tháng mới sinh.
Một hôm Hiếu Nương ngồi ở hoa viên chợt thấy một đại trượng phu mình cao 9 thước đầu đội mũ rồng, mình mặc cẩm bào cưỡi rồng đến thẳng chỗ Hiếu Nương đang ngồi và nói rằng tôi vốn là con vua Thủy Long Quân tên gọi là Hoàng Lang mượn cửa nhà vua để sau này dẹp giặc an dân. Lúc này Hiếu Nương bừng tỉnh, ngày 13 tháng 12 năm Giáp Thìn bỗng có một trận giá to trời đất mù mịt mùi thơm phưng phức ở chốn phòng loan, ánh sáng rực rỡ ở cả loan phòng Hiếu Nương sinh ra một người con trai mình phượng, cổ rồng, hàm én, mày hổ dáng hình cao lớn, mặt mũi khôi ngô sau lưng có 28 ngôi sao như vẩy lân. Một hàng giữa cung có sao bắc đẩu diện điểm như hạt minh châu chia làm thất điền. Sinh được 7 ngày nhà vua cứ theo mộng mà đặt tên là Hoàng Lang. Lúc này có Trịnh Vĩnh Trinh khởi binh rối loạn tại kinh bắc, mang chục vạn hùng binh, trăm viên thượng tướng. Sức mạnh của giặc làm rung động cả kinh thành, vận nước nghiêng ngửa quan quân lo sợ đành chịu bó tay, hàng ngày ở bên phòng tới tấp 4 - 5 lần cấp báo, nhà vua lo buồn bèn lập đàn tràng cầu tế trời đất. Trong khi lập đàn trời đất tối tăm 2 - 3 ngày, lúc này nhà Vua đang ngự tại cung Thái Hòa trời đang mưa gió nhà Vua thiếp đi thì thấy văng vẳng bên tai có tiếng vịnh thơ:
" Nước lúc lâm nguy có thánh tài,
Trời đã định rồi khá lo chi,
Bằng cầu tiên được thần nhân ấy,
Trịnh Vĩnh kinh hồn tán chạy ngay".
Nhà Vua lúc này bừng tỉnh thầm nghĩ mộng này là do trời đất cho biết, nhà vua làm lễ hạ đàn và viết chiếu chỉ các bậc anh hùng hào kiệt ai có tài ra giúp nước an dân thành công sẽ trọng thưởng xứng đáng với công lao. Sứ thần đi đến đâu loa đến đó. Hoàng Lang hỏi mẹ: " Nhà vua có việc gì mà sai sứ thần như vậy" Hiếu Nương nói: " nước nhà đang có giặc Trịnh Vĩnh Trinh phiến loạn đánh phá khắp miền Nam Hải, nhân dân lầm than điêu đứng, triều đình vô kế khả thi, vận nước nghiêng ngửa. Bởi thế nhà vua cho sứ thần đi khắp thiên hạ chiêu mộ người tài, đức, ra giúp nước nay con còn nhỏ, miệng còn hơi sữa làm sao báo đáp lại nghĩa của vua cha". Hoàng Lang nói với mẹ cứ gọi sứ giả vào cho con, Hiếu Nương thấy làm kỳ lạ liền sai cung phi mời sứ thần vào, Hoàng Lang nói với sứ thần người về gấp tâu với vua cha cho ta một lá cờ lệnh cao 10 thước, voi béo khỏe mạnh mang lại cho ta thì giặc sẽ bị đánh tan nhà vua không phải lo gì. Sứ thần vội vã về tâu, nhà Vua nghe thấy sự kỳ lạ ngay ngày hôm sau nhà vua sai làm một lá cờ cán dài 10 thước, voi béo khỏe, quân tướng chừng 10 vạn, sai các quan trong triều văn có Trương Bang Nguyễn Sáng, võ có đẳng tích Trần Hưng, ngoài ra còn có những giai tướng ở Thủ Lệ trong đó có Lê Công Súc, Nguyễn Công Hoàng đinh điển điều binh khiển tướng. Lúc này Hoàng Lang vươn mình đứng dậy, mình cao chín thước tay cầm cờ lệnh đạp chân vào mình voi, voi quỳ xuống từ đó sau lập đền thờ là đền thờ voi phục. Hoàng Lang phất cao cờ lệnh quân tướng dũng mãnh như sấm sét gió gào voi chạy như bay đi đến đâu, đầu giặc rơi đến đó khoảng 30 nghìn tên. Hoàng Lang một mình một voi sông thẳng trước mặt Trịnh Vĩnh Trinh, một trận thư hùng Vĩnh Trinh ngã ngựa bị chém đầu, quân tướng Trịnh Vĩnh Trinh hoảng loạn đầu hàng. Hoàng Lang thắng trận hồi binh qua đạo cát bằng huyện Đông An, phủ Khoái Châu làng cửa sông lúc này Hoang Lang tâm thần bất định, binh mã dừng chân tại làng cửa sông, các cụ dân làng cửa sông mang cót ra quây chắn gió, sau lập đền thờ là đền Cót đổi tên làng cửa sông là làng Cót. Hoàng Lang nói với các cụ làng cửa sông, khi tôi về triều nếu có mệnh hệ nào thì tôi tâu với nhà vua, nhân dân cửa sông được bốn mùa hương hỏa. Hoàng Lang về triều nhà vua mở tiệc ăn mừng khoản đãi, vua vịnh một bài thơ: " Trời kia đã định có thánh minh quét sạch phong trần diệt giặc Trinh, đức trẫm ngời ngời trời chẳng phụ, ức nghiêng chẳng nát thế còn vinh", Hoàng Lang vịnh lại: " Ý trời cho xuống quyét phong trần để đức từ nay ngày một vinh, lúc nước thanh bình ca yên ấm một nhà thanh thái hội vua dân" nhà vua và bách quan đều vui mừng, vua liền phán cùng bách quan nhường ngôi cho Hoàng Lang, Hoàng Lang chắp lễ nhưng không nhận. Hoàng Lang trở về Thị Trai rồi lâm bệnh, nhà vua dùng tới hàng trăm vị lương y, nghìn viên dược liệu nhưng bệnh tình Hoàng Lang không hề thuyên giảm. Một hôm Vua đến thăm Hoàng Lang thấy Hoàng Lang ngày cang suy yếu. Hoàng Lang nói với Vua cha con vâng lệnh Ngọc Hoàng mượn cửa nhà Vua để dẹp giặc an dân lúc này đất nước đã thanh bình nhân dân yên ổn, con phải trở về Thủy Long Cung không được chậm trễ, trong khi thắng trận hồi triều qua đất cửa sông bô lão sai đón rước Hoàng Lang hỏi đây đâu? Các cụ bô lão tâu rằng đây là đất cửa sông , vậy xin Vua cha phê chuẩn cho dân cửa sông được bốn mùa hương hỏa. Nhà Vua liền hỏi công lao của con lớn như vậy, có điều gì Trẫm sẵn sàng phê chuẩn. Hoàng Lang tâu con chỉ xin xây một ngôi đền tại Thị Trai là nơi mẹ con sinh ra, hai là Thủ Lệ chỗ con xuất quân, bà là cửa sông, ba nơi Giao Hiếu, Thị Trai, Thủ Lệ, cốt ấp cửa sông. Từ xưa cứ 3 năm rước một lần, từ cửa sông cót ấp lên Thị Trai, Thủ Lệ và từ Thị Trai, Thủ Lệ về cót ấp cửa sông. Hiện nay đường đê bối ra đền gọi là đường ngự giá Hoàng Lang, tâu với nhà Vua thời gian không còn nữa, xin Vua cho ra phiến đá tại Hồ Tây, lúc sinh và nay là lúc hóa, Vua sai binh quan văn võ rước Hoàng Lang ra phiến đá tại Hồ Tây, lúc này nhà Vua hai hàng châu lệ lã chã nói với Hoàng Lang. Tuy không phải là con thật nhưng công sinh dưỡng nghĩa Vua con có điều gì cha sẵn sàng phê chuẩn. Hoàng Lang nói với Vua cha miễn giảm cho dân sưu thuế 3 năm. Hoàng Lang tâu với Vua cha khi con qua đất cửa sông, các cụ ra bái mạng dân đây hiếu khách vậy xin Vua cha cho nơi này 4 mùa hương hỏa, lúc này trời đất tối đen lại, sấm chớp ầm ầm Hoàng Lang hóa thành Rảo Long mình dài mười trượng vươn thẳng đến Hồ Tây rồi biến mất.
Các cụ cửa sông nằm mơ thấy Hoàng Lang cưỡi voi về làng, lập tức cử người đi nghe ngóng thì quả nhiên Hoàng Lang đã hóa, và nhà Vua cũng cấp sắc phong cho làng cửa sông. Từ đó dân làng cửa sông lập đền thờ chờ ngài ngự gọi là đền Cót và cũng đổi tên làng là làng Cót.
Năm 1533, nhà Mạc và nhà Lê tranh hùng, năm 1548 Thái Ùy họ Trịnh đem quân đánh Mạc chiếm thuyền của Thái Ùy qua đền cửa sông tức đền Cót xuống thuyền. Nửa đêm hôm ấy Thái Ùy mơ thấy một người cao lớn đầu đội mũ rồng đai ngọc, mình mặc áo bào, hai bên có 4 tướng đi kèm sừng sững đi xuống bản doanh,Thái Ùy đứng dậy chào hỏi, tướng quân từ đâu đến Hoàng Lang nói tôi thấy nhà Lê mở hội Trung Hưng để đánh giặc, thấy Thái Ùy mang quân qua đây nên tôi đến đây để giúp. 2 người bắt tay nhau cùng ngồi trò chuyện, Thái Ùy làm một bài thơ: " từ trước tới nay bậc dĩ nhân cần lao cùng việc bảo quân, ân không ngờ lại gặp thiên thần đến cùng đồng tâm giúp nước nhà", Hoàng Lang cùng đọc tiếp: " Tuy tuổi xuân qua cùng một nhà, Anh Hoa thuyền lại ở đôi ta, non sông đau xót anh hùng cốt, sinh hóa vẫn còn như thủa xưa". Đang trò truyện thì Thái Ùy bừng tỉnh, đây là điềm tốt, liền bầy hương án lễ trời đất kéo quân đến thẳng Trần Thương đánh một trận đại thắng, Thái Ùy thắng trận hồi triều tâu với Vua Lê, nhà Vua phong Hoàng Lang thượng đẳng phúc thần và đổi tên Làng Cót là làng Nghi Xuyên, tiếng linh thiêng từ đó truyền đi, bởi vậy khách thập phương truyền nhau thường xuyên đến lễ bái cho đến ngày nay./.
Văn Hóa
Cập Nhật : Vũ Đăng Mạnh Hùng
TỔNG HỘI ĐẠO VIỆT
Thứ Ba, 29 tháng 5, 2018
LỤC TƯỚNG TRẦN TRIỀU ( LỤC BỘ ĐỨC THÁNH ÔNG)
Bài viết từ nhóm Đồng Âm
Nhắc đến tín ngưỡng thờ Trần Triều không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của Lục tướng trần triều.Lục Tướng Trần Triều, là các vị Tướng có công lớn với đất nước, đã phò tá Đức ông Hưng Đạo Đại Vương ba lần thắng Quân Nguyên Mông , tuy không mang họ Trần nhưng thuộc về Công Đồng Trần Triều và luôn được phối tự ở các đền thờ Trần Triều. Các hàng lục bộ đều mặc áo đỏ, về bắt tà, đi trên than lửa, lười cày nung nóng.
Lục Bộ Đức Thánh Ông Gồm :
1.ĐIỆN TIỀN PHÒ MÃ PHẠM TƯỚNG QUÂN:
Phạm Tướng Quân- Phạm Ngũ Lão (chữ Hán: 范五老; 1255–1320) là Tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam). Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.
Phạm Tướng Quân- Phạm Ngũ Lão (chữ Hán: 范五老; 1255–1320) là Tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam). Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm, ông là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.
Ông được Trần Hưng Đạo gả con gái là Quận chúa Anh Nguyên ( Vương cô Đệ nhị). Con gái của Phạm Ngũ Lão là Tĩnh Huệ Công chúa là thứ phi của Vua Anh Tông
Phạm Ngũ Lão đã 3 lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm của Quân Ai Lao, hai lần nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành. Ông không chỉ có tài về quân sự, mà còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước ( Thuật hoài, Viếng Thượng Tướng quốc công Hưng đạo đại vương)
Ngày 1/11/ 1320 Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 66 tuổi và được Vua Trần Minh Tông phong là “ Thượng đẳng phúc thần “. Ông được dân làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ của gia đình ông ( Đền Phù Ủng). Ông còn được phối thờ tại Đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương.
Đức Thánh Phạm khi về đồng ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, múa chấp kích hoặc giáo xuyên vào đùi hoặc thanh long đâo, ngài về tiễn đàn nhà Trần
Đức Thánh Phạm khi về đồng ngài ngự áo đỏ, khăn đỏ, múa chấp kích hoặc giáo xuyên vào đùi hoặc thanh long đâo, ngài về tiễn đàn nhà Trần
2.- TẢ YẾT KIÊU TƯỚNG QUÂN
Yết Kiêu (1242-1301; chữ Hán: 歇驕) , tên thật là Phạm Hữu Thế. Ai trong số những người họ Phạm chúng ta cũng luôn tự hào về tướng quân Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, một vị tướng tài giỏi của nhà Trần, một gia nô hết mực trung thành của Hưng Đạo Đại Vương.
Ông là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần, người có công giúp Nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII với biệt tài thủy chiến. Ông là người bơi lặn giỏi, đã sử dụng tài của mình để đục thuyền của quân xâm lược Nguyên Mông. Yết Kiêu được tôn là Ông Tổ của ngành bơi lăn nước ta. Ông được vua Trần phong tặng “ Trần triều hữu tướng đệ nhất bộ đô soái thủy quân, Tước hầu”
Khi ông mất, Vua Trần truyền lập Đền thờ ông ở bờ sông làng Hạ Bì quê ông – Đền Quát( tên nôm là Làng Quát), thuộc tả ngạn sông Đò Đáy, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Tên của ông được đặt tên cho một phố ở Hà Nội, nơi có trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội mà thường được biết đến với tên gọi Mỹ thuật Yết Kiêu Ngoài ra ông còn được thờ tại Làng Nam Hải, xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, tại Kênh Giang ông được coi là vị Thành Hoàng của Xã
Ông là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần, người có công giúp Nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII với biệt tài thủy chiến. Ông là người bơi lặn giỏi, đã sử dụng tài của mình để đục thuyền của quân xâm lược Nguyên Mông. Yết Kiêu được tôn là Ông Tổ của ngành bơi lăn nước ta. Ông được vua Trần phong tặng “ Trần triều hữu tướng đệ nhất bộ đô soái thủy quân, Tước hầu”
Khi ông mất, Vua Trần truyền lập Đền thờ ông ở bờ sông làng Hạ Bì quê ông – Đền Quát( tên nôm là Làng Quát), thuộc tả ngạn sông Đò Đáy, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Tên của ông được đặt tên cho một phố ở Hà Nội, nơi có trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội mà thường được biết đến với tên gọi Mỹ thuật Yết Kiêu Ngoài ra ông còn được thờ tại Làng Nam Hải, xã Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, tại Kênh Giang ông được coi là vị Thành Hoàng của Xã
3.- HỮU DÃ TƯỢNG TƯỚNG QUÂN:
Dã Tượng (chữ Hán: 野象) và Yết Kiêu là hai gia thần thân tín của Trần Hưng Đạo. Dã Tượng là người có tài thuần phục và chỉ huy đội voi (Dã Tượng có nghĩa là voi rừng)(tượng binh) ở Vạn Kiếp còn Yết Kiêu là người chỉ huy đội lính đánh sông.
Đoạn văn sau trích từ Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến ông:
Trước đây, Hưng Đạo Vương có người nô là Dã Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu. Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân, Dã Tượng thì đi theo. Đến lúc quan quân thu trận, thuỷ quân tan cả. Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:
"Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền".
Dã tượng đã lập nhiều chiến công trong Kháng chiến chống Nguyên - Mông, đời Trần. Ông cùng với Yết Kiêu, Cao Mang, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô là 5 thuộc hạ tài giỏi và trung thành của Hưng Đạo Vương. Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, ông đóng góp đắc lực, tận tình bảo vệ chủ tướng. Chính ông và Yết Kiêu có công lớn trong trận bắt sống Toa Đô. Ông nổi tiếng là một tướng dũng cảm tài giỏi dưới trướng của Trần Hưng Đạo.
Nơi thờ chính của tướng quân Dã Tượng hiện nay có hai nơi:
Đình Câu Dương ở làng Câu Dương, thuộc xã Thụy Hưng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, có bài vị thờ Dã Tượng
Đền A Sào thuộc xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đền thờ Trần Hưng Đạo cùng hai tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. A Sào là nơi công phủ khi Hưng Đạo Vương 18 tuổi mới được phong tước Thượng Vị Hầu, vâng mệnh đến trông coi kho gạo của triều đình trong hơn 3 năm. Thời Trần Nhân Tông, ông giữ chức Tiết chế thống lĩnh các doanh thủy bộ, đánh tan 50 vạn quân Nguyên sang xâm lược nước ta do Thoát Hoan cầm đầu. Vua truyền cho thôn A Sào sửa chữa nhà cũ để làm sinh từ của vương. Sau khi ông mất, trong đền thờ tượng của ông và cả tượng Yết Kiêu, Dã Tượng. Bên bờ sông Hóa gần đó có tượng một con voi do Hưng Đạo Vương sai đắp để tưởng nhớ con voi trận mà ngài cưỡi khi qua sông Hóa đuổi quân Ô Mã Nhi. Voi lội bùn sâu không rút chân lên được nên phải bỏ lại. Bến sông nơi ấy được gọi là Bến Voi.
Trước đây, Hưng Đạo Vương có người nô là Dã Tượng và Yết Kiêu, đối xử rất hậu. Khi quân Nguyên tới, Yết Kiêu giữ thuyền ở Bãi Tân, Dã Tượng thì đi theo. Đến lúc quan quân thu trận, thuỷ quân tan cả. Hưng Đạo Vương định rút theo lối chân núi. Dã Tượng nói:
"Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền".
Dã tượng đã lập nhiều chiến công trong Kháng chiến chống Nguyên - Mông, đời Trần. Ông cùng với Yết Kiêu, Cao Mang, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô là 5 thuộc hạ tài giỏi và trung thành của Hưng Đạo Vương. Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, ông đóng góp đắc lực, tận tình bảo vệ chủ tướng. Chính ông và Yết Kiêu có công lớn trong trận bắt sống Toa Đô. Ông nổi tiếng là một tướng dũng cảm tài giỏi dưới trướng của Trần Hưng Đạo.
Nơi thờ chính của tướng quân Dã Tượng hiện nay có hai nơi:
Đình Câu Dương ở làng Câu Dương, thuộc xã Thụy Hưng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, có bài vị thờ Dã Tượng
Đền A Sào thuộc xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Đền thờ Trần Hưng Đạo cùng hai tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. A Sào là nơi công phủ khi Hưng Đạo Vương 18 tuổi mới được phong tước Thượng Vị Hầu, vâng mệnh đến trông coi kho gạo của triều đình trong hơn 3 năm. Thời Trần Nhân Tông, ông giữ chức Tiết chế thống lĩnh các doanh thủy bộ, đánh tan 50 vạn quân Nguyên sang xâm lược nước ta do Thoát Hoan cầm đầu. Vua truyền cho thôn A Sào sửa chữa nhà cũ để làm sinh từ của vương. Sau khi ông mất, trong đền thờ tượng của ông và cả tượng Yết Kiêu, Dã Tượng. Bên bờ sông Hóa gần đó có tượng một con voi do Hưng Đạo Vương sai đắp để tưởng nhớ con voi trận mà ngài cưỡi khi qua sông Hóa đuổi quân Ô Mã Nhi. Voi lội bùn sâu không rút chân lên được nên phải bỏ lại. Bến sông nơi ấy được gọi là Bến Voi.
4. NGHĨA XUYÊN TƯỚNG QUÂN – AN NGHĨA ĐẠI VƯƠNG:
Nguyễn Chế Nghĩa, thành hoàng làng Cuối, người xã Cối Xuyên, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu (Cối Xuyên nhất xã lục thôn Gồm Đức Phong, Đại Liêu, Mỹ Long, Hoa Điếm, Tiên Nha, Vĩnh Dụ) nay là hai xã Hội Xuyên và Phương Điếm - huyện Gia Lộc . Ngay từ nhỏ ông đã có sức khỏe lạ thường, giỏi cưỡi ngựa và sử dụng giáo dài, thần tiễn, thiên văn binh pháp đều tinh thông, lại thích ngâm vịnh và làm thơ, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, văn võ song toàn. Ngài là vị tướng tài của nhà Trần và được Vua phong là “ Khống bắc tướng quân”.
Võ công của ngài đã góp nhiều với triều Trần đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi
Dẹp giặc xong nhà Vua lại giao cho ngài đi tổng trấn Lạng Sơn một thời gian ngài lại đi xứ Bắc quốc sau đó ngài được triệu về triều giữ nhiều chức như thái uý, đô úy Nghĩa Xuyên Công, Ngài lần lượt được phong thượng tướng, rồi đại tướng quân, Vua Trần đã gả công chúa Nguyệt Hoa cho ngài ( Lúc ngài là thượng tướng quân)
Ngài là bậc lão thần Lần lượt thờ các Vua Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông nhà Trần với tước công và có lúc được giao đứng đầu văn võ, có lúc được giao cả chức lễ bộ thượng thư. Ngài rất cương trực đã giúp nhiều cho việc triều chính ở triều đình và phủ dụ thần dân nhất là những việc cấy hái tầm tang đê điều.
Ngài là bậc lão thần Lần lượt thờ các Vua Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông nhà Trần với tước công và có lúc được giao đứng đầu văn võ, có lúc được giao cả chức lễ bộ thượng thư. Ngài rất cương trực đã giúp nhiều cho việc triều chính ở triều đình và phủ dụ thần dân nhất là những việc cấy hái tầm tang đê điều.
Đến đời Trần Dụ Tông thì Ngài bị ám hại. Vua còn dặn quan thái sử không được chép tên ngài vào sử ký. Thế là nỗi bi ai oan khuất của ngài không được rửa sạch mặc dầu triều đình vẫn làm Vương Lễ an táng và phong thần cho ngài là " An Nghĩa đại Vương"
Công chúa Nguyệt Hoa và thượng vị hầu Nguyễn Sùng Phúc ( Con trai của ngài) không chịu nhận chức tước gì nữa, sau khi ngài mất chỉ ở nhà thủ tiết.
Công chúa Nguyệt Hoa và thượng vị hầu Nguyễn Sùng Phúc ( Con trai của ngài) không chịu nhận chức tước gì nữa, sau khi ngài mất chỉ ở nhà thủ tiết.
Đến đời vua Lê Thái Tổ đã phong thần cho ngài: " Thượng đẳng phúc thần vạn đại huyệt thực" và đến đời Vua Lê Anh Tôn niên hiệu Hồng Phúc đã giao cho bộ lễ Viết lại Ngọc Phả của ngài xếp cuốn ngọc phả này vào sách bách linh của bộ lễ.
Bản triều đã truy ơn và tiếp tục phong thần cho ngài: Tuấn lương đại Vương rồi quang y đại Vương cùng sửa lại ngọc phả trong sách bách linh của bộ lễ
Ngài mất ngày 28/8 âm lịch. Vua Lê Thái Tổ phong ngài “ Thượng đẳng phúc thần vạn đại huyệt thực”. Ngài được nhân dân Kiêu Kỵ tôn làm thành hoàng làng và lập Đền thờ từ đó. Ở Làng Cối Xuyên cũng có Đền Thờ và Lăng mộ Nguyễn Chế Nghĩa
5. HÙNG THẮNG TƯỚNG QUÂN ( QUAN QUẬN)
Tướng quân Vi Hùng Thắng con cụ Phúc Tính và bà Từ Duyên. Là hậu duệ 6 đời của cụ tổ họ Vi ở Làng Vai, xã Kim Sơn, huyện Lục Ngạn ngày nay.
Cùng với các Tướng Trần Sầm, Đỗ Hựu, Đỗ Vỹ, Nguyễn An, Trần Bách, ông đã tiêu diệt quân Nguyên Mông lần thứ hai. Trong trận chiến Quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ 3 ông đã anh dũng hy sinh ngày 20/2/ 1288. Thi hài ông cùng các tiểu tướng hy sinh được nhân dân chôn cất tại rừng bên, sau này nhân dân thôn Hà Thị thành kính lập đền thờ ông ( Đền Khánh Vân, đồi Tân Dã, thôn Hà Thị, nay là Thanh An, thị trấn Chũ, dân vùng chũ vẫn quen gọi là Đền Quan Quận ). Tượng ngài được đặt ngồi chính gian giữa, hai bên thờ các tướng thời Trần đã cùng ông đánh giặc như Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão…
Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, Vua phong ngài bằng hàng chữ:
Sinh ra làm tướng, chết đi làm thần
Tên tuổi Hùng Thắng oai phong linh ứng cùng mặt trời, mặt trăng
Sinh ra làm tướng, chết đi làm thần
Tên tuổi Hùng Thắng oai phong linh ứng cùng mặt trời, mặt trăng
6. HUYỀN QUANG TƯỚNG QUÂN:
Đặng Huyền Quang sinh ngày 13/3/ 1244, tại xã Vị Hoàng, Nam Định. Ngài là con ông Đặng Huyền Chung và bà Lê Thị Chinh, cả hai cụ thân sinh đều là con quan, dòng dõi nhà thi lễ. Đặng Huyền Quang 17 tuổi thuộc hết sách binh thư, tài ba võ nghệ hơn người. Vào tuổi 40 Quân Nguyên Mông xâm lược, ngài chiêu mộ 2000 quân dẫn đến Triều đình xin xung trận và được Vua phong là “ Đô Chỉ Huy Sứ Tướng Quân”. Dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Đại Vương ngài cùng các tướng nhà Trần đã đánh tan Quân Nguyên Mông.
Đặng Huyền Quang mất ngày 10/10/ 1285 tại Dụ Tái, Cập Hiền, Thanh Hà, Hải Dương.
Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018
DIÊU TRÌ KIM MẪU PHỔ ĐỘ THU VIÊN ĐỊNH TUỆ GIẢI THOÁ T CHÂ N KINH TÁ N DIÊ U TRÌ KIM MẪU
Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018
MÃNG XÀ THẦN CHỮA BỆNH
Trong huyền bí tâm linh của toàn thế giới, ai cũng biết đến sự hiện diện của Mãng Xà Thần, có Thiện và có ÁC .
Mãng Xà Thần còn liên hệ mật thiết với các tôn giáo, bên Phật giáo thì Đức Phật được Mãng Xà Thần che Mưa khi ngôi thiền .
Bên đạo Mẫu thì Mãng Xà Thần luôn được thờ trong các Đền Phủ, sự uy linh của Ngài không thể tả hết được, công đức vô cùng to lớn
Giếng Mãng Xà Thần tại khu Đền Bà Chúa Tài Lộc (Đền Mẫu Hoàng Thiên-Thủy Tổ Quốc Mẫu) là nơi thánh Tích từ ngàn xưa, đã lưu truyền được gần 5 ngàn năm lịch sử, có rất nhiều điển tích lưu truyền lại về Ngài .
Trong thời gian gần đây sự hiển linh của Ngài càng mạnh hơn nữa, điển hình là khả năng độ cho người trần thoát bệnh, tiêu tai vận hạn nghiệp chướng bằng nước Thanh Thủy, có các gia chủ về nhất tâm dâng nước lọc rồi về uống bệnh tình đều tiêu hết .
có những gia chủ thì lấy nước sạch ở gần khu Đền Thờ rồi dâng lên ban, mang về uống đều tiêu trừ bệnh tật, tất cả có một sự nhiệm màu khi ai tin vào Ngài, chỉ những người hợp duyên mới được tiêu trừ toàn bộ mọi bệnh tật, cho nên tất cả đều phải nhất tâm mới được như ý .
Thủy Tổ Kinh Dương Vương hóa về Trời để lại phần Mộ lưu truyền đến nay, đã được nhà Nước Tôn Tạo rất đẹp .
Còn Thủy Tổ Quốc Mẫu Thần Long-Tiên Chúa Tài Lộc cùng Mẫu Đỗ Qúy Thị, với Bát Bộ Sơn Trang nhị vị Mãng Xà Kim Cương Thần Tướng bay thẳng về Thiên Đình, cho nên không có phần Mộ lưu truyền hậu thể, điển tích ít người quan tâm và biết tới, trong khi công lao của các Ngài rất là lớn với Quốc Gia Dân Tộc Việt .
Vào thời phương Bắc đô hộ họ đã phá hủy mất nơi thờ của Ngài, sau đó dùng pháp thuật để hạ Núi Vàng sụp đổ xuống, để sau này nước Nam không còn các vị nhân tài Kiệt Xuất nữa, Ngôi Miếu cũng bị mất theo, núi Vàng đổ xuống san lấp vợi con Sông quanh đó , sau hình thành thêm nơi Rừng Rậm ít người qua lại .
Năm Chọn Đất Xây Nơi Thờ Vua Lý, dân Đình Bảng phải di tản về nơi đất của Ngài, họ khai phá rừng rậm , và lập lên bản làng mới gọi là Làng Chằm , nơi Núi Vàng chỉ còn lại như quả đồi nhỏ, đến năm khang chiến đánh pháp, được đắp Thành Lũy quanh làng, và Đắp Thêm vào quả đồi (Núi Vàng) cao hơn nữa để làm nơi trấn thủ, bắn lại quân địch, sau đó năm 1990 bị san ủi nốt là làm Nghĩa Trang thờ Liệt Sĩ , vị quyết định lệnh đó là chủ tịch xã cũng bị mất khi 50 tuổi .
Còn lại duy nhất Ao Mãng Xà Thần được lưu truyền lại, sau đó thời Cụ Tổng và Cụ Thơ( Mẹ của Bà Toán Thủ Nhang ) đã xây lại Ngôi Miếu nhỏ để Thờ Ngài , đến thời Phá Đình Chùa lại bị phá , rồi lại được phục hưng , về sau gia đình Bà Toán được Ngài ứng Mộng cho con Trai Bà là phải lập lại To Khang Trang hơn nữa , thế là gia đình Bà đã bỏ tiền ra xây Lại Đền Mẫu Hoàng Thiên ( hay còn gọi là Đền Bà Chúa Tài Lộc-Thủy Tổ Quốc Mẫu )cũng từ ngày đó nhân dân chung quanh phát đạt thịnh vượng hơn, Giếng Mãng Xà Thần được xây đẹp lại , Mới đây lại được Tôn Tượng Thần Mãng Xà là nơi chữa bệnh cho muôn nhà .
Trải qua bao thăng Trầm của Lịch Sử giờ đây Danh Hiệu của Ngải đã được Muôn Nhà Tụng Niệm, với chủ trương Phục Hưng Thánh Đạo, phục Hưng danh Hiệu của hai vị Mẫu đầu tiên của Dân Tộc để cho muôn nhà được hưởng phước , Bà Thủ Nhang Nguyễn Thị Toán và Con trai Bà kế nhiệm đã Chay Trường để nhận những Mật Truyền của Ngài, rồi in ấn truyền lại cho muôn dân .
Còn phần đất của Ngài các nhà hàng xóm thời phong kiến mua được, giờ vẫn còn Mắt Mãng Xà bên nhà họ vẫn chưa được tu bổ, mong rằng với tâm nguyện của Thủ Nhang sau này họ sẽ nhượng lại tất cả phần đất đó, để nơi thờ Ngài được rộng lớn trang nghiêm hơn, được quy hoạch hơn nữa .
Nam Mô Tổ Mẫu Đỗ Qúy Thị Chứng Minh
Nam Mô Thủy Tổ Quốc Mẫu Thần Long Chứng Minh
Nam Mô Tiên Chúa Tài Lộc Chứng Minh
Nam Mô Hộ giáo Mãng Xà Kim Cương Thần Tướng Chứng Minh
ĐỀN BÀ CHÚA TÀI LỘC ( ĐỀN MẪU HOÀNG THIÊN )
THỦY TỔ QUỐC MẪU THẦN LONG
Xóm Hồ-Mão Điền-Thuận Thành-Bắc Ninh
Thủ Nhang : Bà Toán
ĐT : 0972663752-02223783363
Giờ mở cửa : 24/24
Nếu các đoàn về lễ hãy đi theo bản đồ lầ Đền Bà Chúa Tài Lộc, bản đồ sẽ chỉ đến tận nơi, nếu về Đêm nên điện thoại trước nhà Đền luôn mở cửa .
Bên đạo Mẫu thì Mãng Xà Thần luôn được thờ trong các Đền Phủ, sự uy linh của Ngài không thể tả hết được, công đức vô cùng to lớn
Giếng Mãng Xà Thần tại khu Đền Bà Chúa Tài Lộc (Đền Mẫu Hoàng Thiên-Thủy Tổ Quốc Mẫu) là nơi thánh Tích từ ngàn xưa, đã lưu truyền được gần 5 ngàn năm lịch sử, có rất nhiều điển tích lưu truyền lại về Ngài .
Trong thời gian gần đây sự hiển linh của Ngài càng mạnh hơn nữa, điển hình là khả năng độ cho người trần thoát bệnh, tiêu tai vận hạn nghiệp chướng bằng nước Thanh Thủy, có các gia chủ về nhất tâm dâng nước lọc rồi về uống bệnh tình đều tiêu hết .
có những gia chủ thì lấy nước sạch ở gần khu Đền Thờ rồi dâng lên ban, mang về uống đều tiêu trừ bệnh tật, tất cả có một sự nhiệm màu khi ai tin vào Ngài, chỉ những người hợp duyên mới được tiêu trừ toàn bộ mọi bệnh tật, cho nên tất cả đều phải nhất tâm mới được như ý .
Thủy Tổ Kinh Dương Vương hóa về Trời để lại phần Mộ lưu truyền đến nay, đã được nhà Nước Tôn Tạo rất đẹp .
Còn Thủy Tổ Quốc Mẫu Thần Long-Tiên Chúa Tài Lộc cùng Mẫu Đỗ Qúy Thị, với Bát Bộ Sơn Trang nhị vị Mãng Xà Kim Cương Thần Tướng bay thẳng về Thiên Đình, cho nên không có phần Mộ lưu truyền hậu thể, điển tích ít người quan tâm và biết tới, trong khi công lao của các Ngài rất là lớn với Quốc Gia Dân Tộc Việt .
Vào thời phương Bắc đô hộ họ đã phá hủy mất nơi thờ của Ngài, sau đó dùng pháp thuật để hạ Núi Vàng sụp đổ xuống, để sau này nước Nam không còn các vị nhân tài Kiệt Xuất nữa, Ngôi Miếu cũng bị mất theo, núi Vàng đổ xuống san lấp vợi con Sông quanh đó , sau hình thành thêm nơi Rừng Rậm ít người qua lại .
Năm Chọn Đất Xây Nơi Thờ Vua Lý, dân Đình Bảng phải di tản về nơi đất của Ngài, họ khai phá rừng rậm , và lập lên bản làng mới gọi là Làng Chằm , nơi Núi Vàng chỉ còn lại như quả đồi nhỏ, đến năm khang chiến đánh pháp, được đắp Thành Lũy quanh làng, và Đắp Thêm vào quả đồi (Núi Vàng) cao hơn nữa để làm nơi trấn thủ, bắn lại quân địch, sau đó năm 1990 bị san ủi nốt là làm Nghĩa Trang thờ Liệt Sĩ , vị quyết định lệnh đó là chủ tịch xã cũng bị mất khi 50 tuổi .
Còn lại duy nhất Ao Mãng Xà Thần được lưu truyền lại, sau đó thời Cụ Tổng và Cụ Thơ( Mẹ của Bà Toán Thủ Nhang ) đã xây lại Ngôi Miếu nhỏ để Thờ Ngài , đến thời Phá Đình Chùa lại bị phá , rồi lại được phục hưng , về sau gia đình Bà Toán được Ngài ứng Mộng cho con Trai Bà là phải lập lại To Khang Trang hơn nữa , thế là gia đình Bà đã bỏ tiền ra xây Lại Đền Mẫu Hoàng Thiên ( hay còn gọi là Đền Bà Chúa Tài Lộc-Thủy Tổ Quốc Mẫu )cũng từ ngày đó nhân dân chung quanh phát đạt thịnh vượng hơn, Giếng Mãng Xà Thần được xây đẹp lại , Mới đây lại được Tôn Tượng Thần Mãng Xà là nơi chữa bệnh cho muôn nhà .
Trải qua bao thăng Trầm của Lịch Sử giờ đây Danh Hiệu của Ngải đã được Muôn Nhà Tụng Niệm, với chủ trương Phục Hưng Thánh Đạo, phục Hưng danh Hiệu của hai vị Mẫu đầu tiên của Dân Tộc để cho muôn nhà được hưởng phước , Bà Thủ Nhang Nguyễn Thị Toán và Con trai Bà kế nhiệm đã Chay Trường để nhận những Mật Truyền của Ngài, rồi in ấn truyền lại cho muôn dân .
Còn phần đất của Ngài các nhà hàng xóm thời phong kiến mua được, giờ vẫn còn Mắt Mãng Xà bên nhà họ vẫn chưa được tu bổ, mong rằng với tâm nguyện của Thủ Nhang sau này họ sẽ nhượng lại tất cả phần đất đó, để nơi thờ Ngài được rộng lớn trang nghiêm hơn, được quy hoạch hơn nữa .
Nam Mô Tổ Mẫu Đỗ Qúy Thị Chứng Minh
Nam Mô Thủy Tổ Quốc Mẫu Thần Long Chứng Minh
Nam Mô Tiên Chúa Tài Lộc Chứng Minh
Nam Mô Hộ giáo Mãng Xà Kim Cương Thần Tướng Chứng Minh
ĐỀN BÀ CHÚA TÀI LỘC ( ĐỀN MẪU HOÀNG THIÊN )
THỦY TỔ QUỐC MẪU THẦN LONG
Xóm Hồ-Mão Điền-Thuận Thành-Bắc Ninh
Thủ Nhang : Bà Toán
ĐT : 0972663752-02223783363
Giờ mở cửa : 24/24
Nếu các đoàn về lễ hãy đi theo bản đồ lầ Đền Bà Chúa Tài Lộc, bản đồ sẽ chỉ đến tận nơi, nếu về Đêm nên điện thoại trước nhà Đền luôn mở cửa .
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






