Trang chủ . video ,diễn đàn ,thành viên ,chữa bệnh ung thư,liên kết

Thứ Sáu, ngày 15 tháng 4 năm 2016

THUỶ TỔ QUỐC MẪU

THUỶ TỔ QUỐC MẪU 
Đền Mẫu Hoàng Thiên Thờ Thủy Tổ Quốc Mẫu. Người là Thần Long Hồng Đăng Ngàn - hoàng hậu của vua Kinh Dương Vương. Bà là người sinh thành, dưỡng dục vua Lạc Long Quân - vị vua trí dũng đã cùng vợ là Mẫu Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở ra trăm người con. sinh ra Bách Việt , cho nên thường được kêu là bách gia Trăm Họ .

Là vị Mẫu đầu tiên của dân tộc Việt Nam , cùng với Thuỷ Tổ Kinh Dương Vương lập ra nước xích quỷ nhà nước sơ khai của Việt Nam . Quốc Mẫu là con vua động đình hồ họ tên là Hồng Đăng Ngàn Hiệu Thần Long , ngài được tôn phong là Thiên Thượng Thánh Mẫu cai quản Thượng Thiên Thượng Ngàn , Là Thuỷ Tổ Quốc Mẫu khai sinh ra nước Việt Nam chúng ta .
Ngài dạy dân lúa nước ban phát bạc vàng , tiền của đồ ăn cho những dân chúng nghèo thời đó .
Ngài tu ở núi Tiên ( núi làng chằm ) ngọn núi mà có các ngọn núi bao quanh chầu về , nhứ khu núi Phật Tích , Núi chùa hàm long , núi Thiên Thai chầu về nơi tổ .
Núi tiên ( núi làng chằm ) thơi xưa nơi đó là một nơi rừng núi hoang vu , có động Tiên tu hành tĩnh tu , có bạch hạc cùng các loài chim quý bay về quy tụ , nơi có phong cảnh hữu tình của sông nước bao quanh , về sau này thời nhà Lý , khu đất đình bảng cho di dân để xây dựng đền thờ Vua Lý , dân ở đình bảng được di rời về khai hoang ở nơi này , và lấy tên là làng Chằm ( làng mão điền ) từ đó gọi là núi làng chằm .
Thường có câu ca dao :
Núi Làng Chằm Cách Ngọn Răm Đến Trời

Câu ca dao đã tả được hết sự linh thiêng của ngọn núi , chỉ cần ngọn dăm là tới trời có nghĩa là ở nơi đây khi xưa , núi rất là cao có thể nói sánh với núi Yên Tử thời nay . về sau họ cho san ủi để lấp sông làm nơi cho dân sinh sống , cho nên ở làng Mão Điền rất là nhiều ao nuôi cá là vì vẫn còn lại dấu tích của dòng sông bị lấp .
Lúc Thuỷ Tổ Quốc Mẫu cùng Mẹ của ngài là Mẫu Đoan Trang Tu Hành thì xuất hiện Mãng Xà Thần luôn hộ pháp để Mẫu Tu Hành , cho nên trên các mặt trống đồng của Việt Nam thời xưa đều có hình 2 con giao long là vì thế , thực chất đó chính là 2 vị Mãng Xà Thần bảo vệ Thuỷ Tổ Quốc Mẫu ( Thiên Thượng Thánh Mẫu ) tu hành . lập ra một Quốc Đạo thời đó với ánh hào quang luôn ở Mặt trống đồng với hình tượng của Mặt Trời , lấy biểu tượng mặt trời để mô tả về Đạo Pháp của dân tộc ta lúc bấy giờ đó là Đạo Gốc , và khẳng định thời đó sự Tu Hành của Mẫu đã đạt quả vị cao nhất , cho nên hình tượng mặt trời cũng ví tựa như Hào Quang của Thuỷ Tổ Quốc Mẫu sáng soi khắp vũ trụ ngân hà , và sáng soi khắp nhân gian cõi trần này để theo giáo lý của Mẫu mà tu hành .
Cho nên hình tượng mặt trời trong trống đồng của Bách Việt đó là tượng trưng cho một Đạo Pháp dân tộc thịnh hành thời đó , bằng sự đắc Đạo của đức Thuỷ Tổ Quốc Mẫu ( Thiên Thượng Thánh Mẫu ) cùng với Mẫu Đoan Trang , sáng lập ra Đạo Pháp của bách Việt ( Hoàng Thiên Đạo ) , soi bước tu hành cho nhân loại .
Qủa vị của Thuỷ Tổ Quốc Mẫu đạt được sánh với thời của Đức Phật Thích Ca , nhưng chỉ vì sự đô hộ của trung Quốc làm mất đi những giáo lý của ngài đã truyền thừa lại bằng ngôn từ không bằng sách vở , sự truyền thừa của Đạo Dân Tộc ta ( Hoàng Thiên Đạo ) , bằng những vần thơ ca nổi tiếng , có diễn tả về các thế giới vô hình bí ẩn , có diễn tả về tất cả quy luật vũ trụ văn minh của nhân loại các thời kỳ kế tiếp .
Mặt trời biểu tượng trên trống đồng là sự soi sáng của ánh hào quang của Hoàng Thiên soi bước , ngài muốn để lại cho nhân loại chúng ta tự tìm hiểu , tự tìm ra ánh sáng chân lý , hào quang luôn soi sáng cho chúng ta đi , tất cả chân lý của cõi nhân gian , đó là ánh sáng hào quáng thể hiện qua hình tượng mặt trời , sẽ phá tan cõi u mình đưa chúng ta về với sự trường tồn vĩnh cửu của Đạo Pháp .
Người chốn trần gian phàm phu như chúng ta , các nhà khảo cổ khoa học chưa thể lý giải được sâu sa đúng nghĩa về hình tượng mặt trời trên trống đống Việt Nam , vì giáo lý của ngài quá là Thâm Sâu , để lại cho nhân loại lý giải xem có ai hợp căn cơ mà giải lý cho đúng .
Đó là ánh sáng đưa chúng ta thoát khỏi chốn mê mờ , đưa chúng ta lên con đường của chính giác , đưa chúng ta vào cõi của sự Vĩnh Hằng , bằng ánh sáng soi đường dẫn bước của Thuỷ Tổ Quốc Mẫu , Hoàng Thiên Đạo ( Đạo Dân Tộc ) là ánh sáng của Vua Trời đưa chúng ta hoà nhập vào với vũ trụ bao la , trở lại với tâm Từ Bi vốn sẵn có trong mỗi chúng ta . 
Vậy mà con dân Việt Nam có nhiều người quên đi đạo Dân Tộc , giáo lý căn bản nhất của Đạo Đức Làm người đó là Đạo Hiếu , cho nên chúng ta hãy tìm lại những gì đã mất , tìm lại nguồn gốc của Dân Tộc , tìm lại con đường Đạo chính thống giúp chúng ta tu thành Đạo quả .
Thuỷ Tổ Quốc Mẫu ngài đã thành quả Vị cao Nhất thời đó , biểu tượng mặt trời chính là ánh sáng soi đường chúng ta tu hành ( Hoàng Thiên ) và mãi trường tồn với thế gian .
Thời kỳ trung quốc đô hộ đã tàn hại những tín đồ , những bậc thầy uyên bác được thừa hưởng giáo lý của Thuỷ Tổ Quốc Mẫu làm mất đi một nền giáo lý cao siêu nhất . giáo lý đưa chúng ta đến con đường giải thoát  Sứ giả Đạo Pháp : 
Mẫu Đơn Nhất Đoá 

Thứ Ba, ngày 29 tháng 3 năm 2016

LỄ TRÌNH ĐỒNG MỞ PHỦ

Lễ trình đồng ngày nay rất tốn kém. Nguời nghèo không có tiền thì đàn mỏng lễ sơ, nhưng người giàu thì tổ chức trình đồng có đàn lễ lên tới con số Rất Nhiều . chi phí cao sẽ  dẫn đến có người không có đủ khả năng ra hầu Thánh .

Thông thường tín đồ chỉ đưa tiền cho nhà đền (Thủ đền), nhà đền lo sắm lễ tất cả. Ngày nay, tín đồ giao hết tiền cho Thầy Tứ phủ tự thu xếp. Cuộc lễ có thể tổ chức vào ngày tốt, tiến hành trong 3 ngày. Ngày đầu gọi là lễ trình (mở Đàn, mở Phủ), ngày thứ 2 có hoặc không, để cách khoảng chứ không có lễ nghi gì quan trọng, và ngày cuối cùng là ngày tiễn Đàn sơn trang nên được gọi là: “Tiền tứ phủ, hậu sơn trang”. Ngày nay, đôi khi người ta tổ chức luôn trong phạm vi một ngày. Lễ trình mở Đàn, mở Phủ chủ yếu làm thủ tục trình báo với các Ngài trong Tứ phủ, cúng các loại đồ mặn, một ít đồ mã, tiền vàng. Lễ này ta tạm hiểu giống như thủ tục tổ chức, ổn định hội nghị, tuyên bố lý do, khai mạc, chào cờ và đọc báo cáo hội nghị. Lễ tiễn Đàn sơn trang mới là lễ chính, phần quan trọng nhất của lễ trình đồng. Tại Lễ tiễn Đàn sơn trang, các Ngài sẽ nhập vào người hầu đồng, điểm nhang phù phép lễ vật, vui chơi và phán truyền.
Lễ tiễn Đàn sơn trang cần rất nhiều lễ vật. Loại lễ vật thứ nhất là hoa quả, vật dụng tư trang, đồ ăn, bánh kẹo.... Hoa quả bầy trên khắp các ban thờ, thường dùng nhất là hoa huệ trắng, ngày nay là hoa hồng. Đặc biệt ban thờ trước giá hầu thường được cắm hoa hồng. Tiền để Thánh ban phát lộc bày cả khay trên bàn lễ. Có khi người ta lấy tiền giấy kết thành hình con bướm mắc vào cành huệ để các Ngài dùng những cành hoa ấy phát lộc. Rất nhiều trái cây đủ loại được bày thành từng mâm. Trong đó có một vài mâm đặc trưng mà buổi hầu đồng nào cũng phải có: Mâm quạt, mâm lược và mâm gương soi để dâng cho giá cô Bơ phủ. Một mâm hoa quả như: ớt, ổi, dứa, chuối, đu đủ..., gừng, chanh... gọi là lộc sơn trang để dâng cô Bé Thượng Ngàn; một mâm kẹo bánh, đồ chơi trẻ con để dânh cho giá Cậu; một mâm trứng, oản thịt luộc để dâng Ngũ hổ năm dinh; kẹo lạc trà tàu thuốc lá mà đầu thuốc có phết một ít thuốc phiện để dâng giá ông Hoàng Bảy.
Loại lễ thứ hai là đồ mã. Bắt buộc phải có một đài sơn trang, lớn hay nhỏ tùy theo ý muốn của người ra đàn. Đài sơn trang là một cái động nằm trong khu rừng âm u, trong động có các nàng tiên nữ theo hầu bà chúa Sơn Trang, có người gảy đàn, người múa hát... tất cả đều được làm bằng giấy. Bốn hình nhân thế mạng lớn bằng hình người thật, mặc sắc phục khác nhau: Xanh, đỏ, trắng, vàng tượng trưng cho bốn phủ. Mỗi hình nhân mang theo một điệp sớ. Sớ này do Thầy tứ phủ viết trước khi làm lễ. Chữ viết theo lối bùa chú, có thể đọc được. Một thuyền giấy hình thoi, một hình người có 3 đầu, mình rắn (ông Lốt), một ngựa, một voi, và nhiều mũ, vàng thoi.... Đây chỉ là kê cho đủ, trên thực tế thì đồ mã dùng nhiều vô kể, đặc biệt là đồ mã hình nhân, voi, ngựa, thuyền giấy, hình nhân 3 đầu…
Loại lễ vật thứ ba là một mâm sớ, 4 quyển sổ, 4 nghiên son, 4 thỏi mực, 4 bút lông. Mỗi sổ dành cho một phủ. Trên ban thờ hầu được thiết lập thành 4 phủ. Đó là 4 dãy lụa đỏ, xanh, trắng, vàng trải dài trên bàn phủ xuống tận đất. Mỗi vuông lụa ngang khoảng 7 đến 9 tấc, dài khoảng 2,50m. Những vuông lụa đó phủ kín để che dấu bên trong là một cái thau, một cái gáo múc nuớc để trên thau, một hũ nước dán miệng kín bằng một tờ giấy cùng màu với phủ, một mâm gạo, một mâm trứng, thuốc lá, trà tàu, một hộp trầu cau. tất cả đều mới và cùng màu với phủ. Những lễ vật như thau, gáo múc nuớc, hũ nước do Thầy tứ phủ quyết định và ngày nay, đôi khi ít được sử dụng trong quá trình hành lễ. Ngoài cửa đền còn có bày một mâm gạo, trứng, muôi và cháo để cúng chúng sinh.
Khi mọi lễ vật đã được chuẩn bị xong, cuộc lễ bắt đầu. Lễ thường được tiến hành từ 10 giờ sáng. Người ra đàn phải tìm cho mình một Quan thày (Thầy tứ phủ) có đức cao trọng vọng và có tiếng trong Tứ Phủ để hầu mở phủ. Người ra đàn phải mang những y phục mà mình đã may để trình. Những y phục này chỉ có giá trị khi đã dâng lên và được các Ngài “chứng” bằng cách điểm dấu nhang lên trên đó. Ngày nay, vấn đề y phục cũng do Thầy tứ phủ và đệ tử theo hầu thầy đảm nhận toàn bộ. Vì vậy, đôi khi đó là những bộ y phục cũ, đã dùng rồi. Chỉ riêng y phục khăn chầu áo ngự cũng có thể viết được một bài dài mô tả về số lượng và sự phong phú của nó.
Trước bệ hầu, bà đồng, hoặc Thầy tứ phủ (người hầu bóng) đảm nhận việc hầu đồng ngồi giữa, xung quanh có bốn đệ tử theo hầu, lo việc thay khăn áo, đưa trình các vật dụng như rượu, thuốc lá, trầu cau, kiếm, đao, nến lửa…Bốn người hầu này còn được gọi là hầu dâng, phụ đồng hoặc tứ trụ… tuỳ theo vùng miền, mỗi người một cái quạt lông sặc sỡ, quạt cho Ngài mát, che chắn khi Ngài uống nước, uống rượu, châm thuốc lá …
Sau khi bà đồng, hoặc Thầy tứ phủ đảm nhận việc hầu đồng sửa soạn hầu mở phủ thì cung văn tấu nhạc, Thầy tứ phủ đọc sớ và người ra đàn lễ bái trước tất cả các ban thờ, xong trở lại ngồi chầu nơi bệ hầu để khấn vái chờ nghe các Ngài phán bảo.
Quan thầy hầu trước là giá Tam tòa thánh mẫu. Rồi đến giá Quan. Giá này quan trọng nhất vì chỉ có các quan mới có quyền mở phủ còn những giá khác chỉ về chứng đàn mà thôi. Bởi vậy quan thầy hôm ấy bắt buộc phải hầu giá các quan, còn các giá Cô, cậu,... gọi là hầu cho vui, muốn hầu hay không là tùy. Trong hầu đồng thì trùm khăn phủ diện có ý nghĩa quan trọng nhất trong nghi lễ Thánh giáng. Xuất phát từ quan niệm cho rằng người hầu đồng chỉ là cái xác, cái giá, cái ghế để Thánh nhập vào, nên khi người hầu đồng trùm khăn lên đầu, thì họ được coi như người đã chết.
Mỗi phủ có một quan đầu đồng và quan ở phủ nào thì mở phủ ấy. Thí dụ:
Quan Bơ về mở phủ thứ 3, sắc trắng. Sau những nghi thức thường lệ “Quan” cầm một bó nhang đốt cháy, tay trái cầm chéo khăn và “chống nạnh”, Quan dậm chân hét một tiếng to, lúc ấy chiêng trống nổi lên dồn dập. Quan cầm bó nhang, xoay xoay trước ban thờ và 4 hướng, tiến đến phía các phủ cũng làm dấu điểm nhang. Đoạn ngồi xuống, nghe thầy cúng hoặc cung văn đọc sớ, đọc xong dâng mâm sớ lên cho quan điểm nhang. Quan kiểm sổ bằng cách chấm bút son vào sổ. Rồi đứng dậy tiến tới phủ của mình, Quan giở khăn choàng phủ ra, hầu dâng xếp khăn lại đặt trở lên bàn thờ. Quan lấy vài miếng trầu cau, một quả trứng, thuốc lá, một nhúm gạo bỏ tất cả vào thau sau khi đã điểm nhang trên các vật ấy. Quan lấy gáo chọc thủng nắp thố nước, múc 4 gáo đổ vào thau. Như vậy, là mở phủ xong, Quan trở lại chỗ hầu, nghe văn, ban lộc và xa giá hồi loan. Các quan ở phủ khác cũng đều làm giống như vậy. Sau khi quan thầy hầu mở xong 4 phủ tức là buổi lễ mở phủ đã xong. Suốt trong buổi hầu đồng người ra trình đồng phải hì hục khấn vái và quấn quít bên cạnh Quan thầy. Sau phần nghi lễ chính thức, nhà đền có thể bày tiệc thiết đãi linh đình
Có thể tiễn đàn ngay ngày hôm sau hoặc để cách một hôm. Bà đồng trong cung hầu chuẩn bị sửa soạn hầu tiễn, ở bên ngoài cung văn và thầy cúng nổi chiêng trống và đọc sớ làm lễ tiễn Thổ công. Người ra đàn đi lễ tạ khắp các ban thờ. Các mâm cỗ mặn được bầy cúng trước các ban thờ. Vẫn có gạo muối, trứng, chầu cau, cháo để cúng chúng sinh ở cửa đền. Trước các đầu voi, ngựa, thuyền đều có để bát nhang. Cúng xong bà đồng bắt đầu hầu tiễn. Buổi hầu tiễn đồng này vẫn do quan thầy làm, cũng giống như buổi hầu mở phủ chứng đàn. Khi về giá các Quan. Quan nào chịu tiễn đàn thì Quan sẽ chứng sớ và ra lệnh cho hầu dâng cắm một thanh gươm và một cây cờ sau lưng. Tay trái Quan cầm một góc khăn và chống nạnh, tay phải cầm một góc khăn và một bó nhang to đốt cháy... Chiêng trống đổ dồn dập, mọi người vội vã bày hết đồ mã ra xếp dọc hai bên của đền hướng về phía đường đi. Quan làm dấu nhang trên tất cả cá đồ mã, khai quang điểm nhãn cho các hình nhân, những bông vạn thọ được xé nát ra trộn vào gạo muối rải tiễn các đò mã và rải tiễn cả 4 phương. Quan cầm cờ múa quay và miệng hét “ há, há...” quan rải rượu và cắm nhang lên hình nhân và đò mã, ra lệnh cho mang tất cả đi hóa....Bên ngoài các đò mã được chuyển đi hóa, ở trong chiêng trống đổ dồn, quan trở lại ngồi trước bệ hầu uống rượu, hút thuốc, nghe văn, phát lộc và thăng. Buổi lễ ra đàn hay trình đồng như vậy là hoàn tất. Người ra đàn có thể hầu bóng ngay hôm đó.
Về nghi lễ của Lễ trình đồng thì đại thể là như vậy. Trên thực tế ngày nay được đơn giản hơn nhiều. Khi làm lễ trình thì không có cung văn và đàn sáo, chủ yếu là đọc văn cúng khấn và cúng các lễ vật nhưng khi làm lễ mở đàn chính thức thì mới có. Nếu lễ trình đồng, mở phủ có kết hợp cả các nghi lễ trả nợ tào quan, trả nợ thiên cung, đốn tam phủ, tiễn quan sát…thì còn phức tạp và rườm rà hơn nhiều. Đây có thể cũng là một xu hướng mà các thầy tứ phủ muốn kết hợp làm, bản thân người ra đàn chắc cũng muốn vậy. Nếu tuần tự làm từng lễ sẽ rất mất thời gian và hết sức tốn kém.
Sau phần nghi lễ mở phủ là đến phần các Ngài về chứng đàn. Như trên đã nói, có khoảng 38 vị được thờ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Các vị Thánh mẫu hầu như không về giáng đồng mở phủ. Chỉ có các quan mới được Thánh mẫu uỷ quyền về chứng đàn, mở phủ tiếp nhận đệ tử (người ra đàn). Đó là các Ngài trong hàng Ngũ vị Vương quan, Ngũ vị Thánh bà. Sau khi các Quan về chứng đàn mở phủ, các vị trong Ngũ vị Hoàng tử, Thập nhị Vương cô, Thập nhị Vương cậu về giáng đồng. Gọi là Ngũ vị Hoàng tử nhưng có đến 10 ông hoàng. Trong số đó có sáu ông giáng đồng, và Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bẩy, Ông Hoàng Muời giáng rất thường xuyên.
Trong một cuộc điều tra xã hội học về hầu đồng của Việt Kiều tại Pháp do J.SIMON - BAROUH thực hiện vào những năm 70 cho thấy trong 27 buổi hành lễ, thì cả 27 lần đều thấy thánh Mẫu giáng, 6 lần đức thánh Trần giáng, 21 lần đức quan Đệ Nhất giáng, 25 lần đức quan Đệ Nhị giáng, 23 lần đức quan đệ Tam giáng, 16 lần quan lớn Đệ Tứ, 26 lâng quan lớn Đệ Ngũ. Hàng Chầu Bà: Đệ Nhất 12 lần, Đệ Nhị 26 lần, Đệ Tam 16 lần, Đệ Tứ 16 lần, Đệ Ngũ 4 lần, Chầu Lục 23 lần. chầu Bé 16 lần. Hàng ông hoàng; Đệ Nhất 11 lần, đệi Nhị 8 lần, đệ Tam 21 lần, đệ Thất 26, Hoàng Mười 23 lần. Hàng các cô, Cô Cả 5 lần, Cô Đôi 17 lần, cô Bơ 24 lần, cô Chín 17 lần và cô Bé 22 lần. Hàng Cậu, cậu Đôi 16 lần, cậu Bé 11 lần. Quan Ngũ hổ giáng 14 lần, Ông Lốt giáng 4 lần. Riêng về phần này cũng phải tốn nhiều giấy mực mới viết được hết.
Lễ trình đồng là một nghi thức đặc biệt, được tiến hành trong quá trình thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Phương pháp tổ chức lễ vẫn mang nặng tính truyền khẩu, chưa có cơ sở kinh sách lưu truyền, mỗi địa phương, mỗi đền phủ đều có cách làm không hoàn toàn giống nhau. Do đó, để tổng hợp được một bài viết về lễ trình đồng là điều không thể được. Bài tổng hợp này cũng chỉ giúp cho độc giả có cái nhìn cụ thể hơn về lễ trình đồng mà thôi
Với Tinh Thần đạo pháp vì mọi người , chỉ trình đồng mở phủ để giúp dân , chúng tôi đã có tổ chức cứu phúc , được lập thành từ năm 1980 đến nay , Câu Lạc Bộ Đạo Mẫu chúng tôi luôn lấy chữ Tâm làm đầu , giúp cho tất cả mọi người đều được ra Hầu Thánh mới chi phí thấp nhất 
Cần Tư Vấn Xin Liên Hệ 
ĐỀN MẪU HOÀNG THIÊN 
Trưởng Ban : 
PS Vũ Đăng Mạnh Hùng 
xóm hồ_Mão điền_thuận thành_bắc ninh 
ĐT :0972433018 .0967396549 

Thứ Hai, ngày 19 tháng 10 năm 2015

Lỗ Ban Toàn Thư

Nguồn Gốc Về Lỗ Ban Tiên Sư: Sư họ Công Thâu, tự Y Trí, là thánh hiền nước Lỗ, tiên sư là người dân bình thường trong huyện Hưng Long, phủ Châu Long Hưng, nước Lỗ, cha ngài là Hàn Hiền, mẹ ngài là họ Ngô, ngài sinh vào năm thứ 3 Lỗ Định Công, vào giờ Ngọ ngày mồng 7 tháng 5 năm Giáp Mậu, vợ ngài họ Vân, hai người cùng nhau tạo dựng, đốn củi ở Hồng Châu, đến khi trong nhà phát tài, chiêu mộ dạy đệ tử, truyền sách quý cho con cháu đời sau, bản thư này vạn ứng vạn linh, tứ phương tùy hành.
Phương Phương Linh
Tiền Truyền Hậu Giáo
Bản sách bao gồm các phương thức Khai Sơn, Khai Hiệu, Phạt Mộc, Yểm Sát, Hạ Cột, Lập Trụ, Cơ Nội Thiết Thần, Thượng Lương, Đả Táo, Khởi Thủy, Khai Quang, An Quyển, Định Môn, vv….
Cần phải kế thừa được tinh hoa của sách rồi sau đó mới có thể truyền lại cho kẻ khác được, vận dụng các pháp 1 cách linh hoạt, người học phải ghi nhớ nếu làm sai mất linh.
——————————-
Yểm Sát Yểm Phạm Chú
Tập Chú Ngữ
Chú ngữ này cần phải học 7 ngày, mỗi ngày cần học vào lúc sáng sớm khi bước xuống giường, khi tập chú không được để cho người khác biết, đốt hương, đốt nến, thỉnh niệm 3 lần, từ 1 đến 7 ngày, trong thời gian 7 ngày nếu để người khác biết, sẽ mất linh, phải làm lại từ đầu.
Yểm Sát Yểm Phạm Chú Như Sau :
Phục Dĩ : Bất thị sinh cơ thị tử kê, thân xuyên ngũ sắc hoa mao y, thử kê lai lịch tòng hà khởi, đường tăng tây thiên đế lai đích, ngọc đế nương nương dụng lai khứ báo hỷ, lê dân bách tính dụng lai yểm sát, yểm phạm, thiên sát quy thiên giới, địa sát quy địa thần, hung thần ác sát, hùng kê điểm sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, hùng kê điểm hóa, trạch tiền trạch hậu, trạch tả trạch hữu, kính thần tượng, hùng kê thối phạm thối tượng, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, ngũ hành, phạm, phương, phạm sát nhất ứng điểm hóa.
 
Khởi Thủy Chú
Tập Chú :
Khởi thủy chú cần phải học 3 tháng vào các ngày 1, 15, mỗi tháng học mất 2 ngày, 3 tháng tổng cộng là 6 ngày, khi học thì học vào ngày 1,và 15, đều phải chọn giờ Hợi buổi tối mà bắt đầu, đốt hương 3 cây, nến 1 đôi, đèn 1 chiếc, và 1 cái bát nhỏ, dùng tay vẽ hiệu sắc lệnh lên bát miệng niệm chú tay đồng thời vẽ sắc lệnh, mỗi lần niệm 2 lần, niệm xong sau đó nuốt nước đã thư sắc lệnh vào trong bụng, trước khi tập chú cần tắm giặt thay quần áo, không được có ý niệm tà dâm, sau đó đốt tiền hóa vàng, miệng niệm khởi thủy chú ngữ, tay vẽ săc lệnh, tập chú khởi thủy có thể Yểm Phạm Sát, khu tà trục
yêu,nếu như không thành tâm sẽ không linh ứng
Khởi Thủy Chú Ngữ Như Sau
Phục Dĩ , thỉnh đáo thần thủy, tiên đáo phổ an đại cát, thử phương đại cát, thiên thị phổ an thiên, địa thị phổ an địa, phổ an đại thần thông thiên thượng, nhật dụng tại chưởng trung, ngô phụng phổ an, thân thân đáo thử, nhất thời thuyết khởi tiện khai công, thiên sát quy thiên, địa sát quy địa, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, mộc mã đại sát, viễn tiền yểm áp, ngô phụng thái thượng lão quân cấp cấp như luật lệnh.
Dùng tay vẽ sắc lệnh vào bát iệm tiếp : nhất điểm càn khôn đại, hoành dụng nhật nguyệt minh, bàn la sanh vạn tượng, ngũ phật định trung ương, tam thiên môn ngoại, hạo hạo thượng thương, thượng bảo hổ đế hoàng quan, thao thao giang thủy yếu hồi hoàn, tứ tư vạn lý cư, đông nhạc miếu thần, nam nhạc thổ chủ, tây nhạc miếu thầy, bắc nhạc thổ chủ thỉnh phó lô tiền, thụ nạp hương yên, hồng châu, đắc đạo, lỗ ban tiên sư, phục dĩ, hựu thỉnh lai Mỗ ….. thị môn tông, đính kính tam giáo thần phật, bản gia trấn trạch, trường sinh hưng long thô địa, hậu cung phật khánh đại nhân, chiêu tài đồng tử, tiến bảo lang quân, hạo vu cửu thiên đông trù, tư mệnh thái ất táo vương phủ quân
Hậu cung ngọc trì phu nhân, bàn tài đồng tử, vận thủy lang quân, tiên chính nhân luân, thượng hữu bàn cổ tiên sư, trung hữu bàn cổ tiên sư, hạ hữu bàn cổ tiên sư, mặc đẩu tiên sư thỉnh phó lô tiền, khởi thủy báo phạm, an kiếp lục giáp, khởi câu oạt địa, nhất thiết yểm phạm.
Chữ này dùng giấy vàng vẽ bằng kê huyết ( máu gà ) đem thiêu đi hòa vào trong bát nước thì mọi sự sẽ đại cát.
Tu Tạo Cấm Kị
Ngày Lỗ Ban Sát : Mùa xuân kị ngày Tý, Mùa hạ kị ngày Mão, Mùa thu kị ngày Ngọ, Mùa đông kị ngày Dậu.
Ngày Phủ Đầu Sát : Mùa xuân kị ngày thìn, Mùa hạ kị ngày Mùi, Mùa thu kị ngày Dậu, Mùa đông kị ngày Tý.
Ngày Đao Châm Sát : Mùa xuân kị ngày Hợi, Tý, Mùa hạ kị ngày Dân, Mão, Mùa Thu kị ngày Tị Ngọ, Đông kị ngày Thân, Dậu.
Ngày Mộc Mã Sát : Tháng 1 kị Tỵ, tháng 2 kị Mùi, tháng 3 kị Dậu, tháng 4 kị Thân, tháng 5 kị Mão, tháng 6 kị Tý, tháng 7 kị Dần, tháng 8 kị Sửu, tháng 9 kị Mão, tháng 10 kị Dần, tháng 11 kị Thìn, tháng 12 kị Ngọ
 
Khai Sơn Phạt Mộc Trị Sát
Phục dĩ, đệ tử đính kính, khai sơn tổ sư, phần hương bính chúc, tửu lễ hiến tế, chư thần hổi tỵ, thiên sát, địa sát, niên sát, nguyệt sát, nhật sát, thời sát, nhất bách nhị thập tứ vị hung thần ác sát các quy phương vị,
 
Phương Thức Dùng Khi Đảo Ngói Nhà
Phương pháp : Dùng đầu con dao cắm vào cốc rượu, sau đó đốt hương thắp nến,dùng 3 hộp tiền, trên tiền có chấm kê huyết ( máu gà ) hướng về bắc phương mà thiêu đốt, miệng niệm chân ngôn chú :
Phục Dĩ : thần thông hạo hạo, thánh đức chiêu chiêu, phàm thần hữu thỉnh, đệ tử bẩm cáo, thổ công thổ mẫu, địa hậu thiên cao, chủ gia tu tạo, vạn phúc lai chiêu, thiên sát quy thiên giới, địa sát thổ trung mai, niên tai nguyệt hàng, bách vô cấm kị, đệ tử niệm chú, chư thần hồi tỵ, đại cát đại lợi. Niệm chú xong liền thiêu 1 hộp tiền, niệm 1 câu chú xong liền thiêu 1 hộp.
Tập luyện chú :còn thiếu
Tu luyện trì đảo gia sát chú ngữ này cần mỗi tháng tập vào các ngày 9, 19, 29, chọn vào giờ Hợi bắt đầu khai thủy tế luyện, dùng 3 thứ thực phẩm cao cấp để cúng, mỗi thứ nửa cân làm tế phẩm cúng dường, dùng 3 chiếc đèn dầu treo trên tường.
Tác Pháp :
Giờ Hợi khai thủy tế luyện không được để cho ai biết, tự mình dâng cống phẩm lên bàn, hướng về phía 3 ngọn đèn trên tường khấu đầu bẩm cáo, hai tay chắp lại bằng vai, niệm chân ngôn chú ngữ tổng cộng 3 lần, niệm 1 lần thì đốt 1 hộp tiền, cần phải tập luyện trong 6 tháng, mỗi tháng tập luyện 3 ngày, 9, 19, 29, cộng lại là 18 ngày, đủ số ngày đó mới có thể sử dụng được chú.
Phụ Chú :
Cống phẩm không được thay đổi và phải giữ cho thật sạch sẽ, khi tế luyện xong có thể dùng giấy gói lại, học xong thì cống phẩm đó tự mình phải ăn không được cho người khác ăn.
 
Báo Phạm
Đong lấy 1 cân gạo, dùng 1 cái bàn gỗ để đối với phòng ốc, cầm gạo rắc vào trong lòng bát, trích lấy máu gà viết lên bùa, mỗi lần điểm 1 điểm, chữ Vũ 雨 điểm 1 cái, chữ Tiệm  điểm 1 cái, chữ điểm 1 cái, sau đó cầm phù thiêu bằng hết vào trong bát nước rồi nuốt lấy, bên ngoài miệng niệm Báo Phạm chú ngữ.
Phục Dĩ : Phổ an tổ sư đại thần thông, niên niên nguyệt nguyệt tại gia trung, bất luận phàm dân bính tam sát, thần thủy lạc địa tận giai thông, thiên sát khởi, thiên sát thối, địa sát khởi, địa sát thối, niên sát khởi, niên sát thối, nguyệt sát khởi, nguyệt sát thối, nhật sát khởi, nhật sát thối, thời sát khởi, thời sát thối, phổ phật tọa trung đường, khủng bất kiến thái dương, đại địa y tát địa, hồng nhật chiếu trung ương, tín dân do khủng phần tiền phạm, táo tiền phạm, ốc tiền ốc hậu phạm, oạt cao điền đê phạm, đông phương mộc phạm, nam phương hỏa phạm, tây phương kim phạm, bắc phương thủy phạm, trung ương thổ phạm, đông ngũ lý, nam ngũ lý, tây ngũ lý, bắc ngũ lý, trung ngũ lý, ngũ ngũ nhị thập ngũ lý , Thối —— Thối ——- Thối —— đại lao áp sát.
*** Chỗ gạch ngang trong sách gốc chép như là mô tả đoạn đó hô cao lên như 1 bài ca vậy.
Quy cách làm do tổ sư truyền lại :
Đong 1 cân gạo, số gạo này do người cần yểm sát mang đến, có thể dùng để yểm sát, tiền bạc do gia chủ tùy ý đưa vào cúng tế, người yểm sát không được tranh chấp, nếu không thần chú sẽ mất đi sự linh diệu. Tập Luyện :
Tập yểm phạm chú ngữ cần tu luyện vào các ngày lẻ hoặc tháng lẻ như tháng 1, 3, 5 chọn ngày Tý rơi vào các ngày lẻ như ngày 1, 7, 9, 11, 13, 15, 17, 21, 23, 25, 27, và ngày 29. trùng vào các ngày Thiên Y. Khi tu luyện chọn giờ Hợi đốt hương, thắp nến, đốt tiền vàng mã, miệng niệm chú ngữ : Tiên thỉnh tổ sư, thiên thiên tổ sư, vạn vạn sư gia, đệ tử phụng thỉnh niệm chú.
Phục Dĩ : Lúc bắt đầu khởi niệm cần phải 3 lần, niệm đến 7 ngày thì nuốt nước vào bụng, sau này khi dụng chú sẽ rất linh, đó là sự luyện tập, còn không thì sẽ không linh.
Cấm kị : Trong thời gian tập chú cấm 2 người khác giới cùng phòng, trước khi niệm chú cần , tắm gội, tịnh khẩu, tịnh thân, không được có dâm niệm.còn thiếu
 
Cửu Long HóaCốt Thủy
Bị Hóc Xương, Hóc Dị Vật Có Thể Trị
Chú Ngữ : Cửu long tiên sư, cứu khổ cứu nạn, cửu long hóa cốt thủy, truyền thụ đệ tử, phụng thỉnh sư tăng, linh quan mã ngôn, hầu lung hóa đàm, tỉnh thủy đại than, thương hải mang mang, đệ tử tu thành, thiên khiếu thiên ứng, vạn khiếu vạn linh, ngô phụng thái thướng lão quân lệnh, cật cốt thủy, hóa cốt thủy, thiên thiên hóa lai trường lưu thủy, hầu lung hóa lai trường lưu thủy, đông dương đại hải thủy, tiên sư đáo, sư gia đáo, thiên thiên ngư thứ tựu hóa điệu, niệm xong dùng ngón giữa thư phù trong nước, rồi dùng nước đó uống.
Tập luyện : cách thức tập pháp này lẫn hình thức phù giống như Báo Phạm pháp, các ngày luyện tập cũng vào các ngày lẻ 1, 7, 9, 11…….. trùng với ngày Thiên Y, chọn vào giờ Hợi đốt nến thắp hương tập luyện, tập luyện thành sau đó có thể dùng pháp này trị bệnh được, 2 pháp Báo
Phạm và Long Hóa Cửu Cốt Thủy này là căn bản trong các pháp chữa bệnh của tổ sư.
Thôi Sinh Pháp Phù( Khó Sinh Dùng )
Chú Ngữ :
Nhất hóa cửu long thủy, nhị hóa vương mẫu thôi sinh thủy, tam hóa quan âm bình nội thủy, tứ hóa tây thiên hoa đà thủy.
(Tổng hợp từ Tantric blog) 

Thứ Hai, ngày 12 tháng 10 năm 2015

ĐI LỄ CHÙA SAO CHO ĐÚNG

Pháp Sư : Võ Thiên Phúc .


Việc đi Lễ như nói trên đã thành một nếp nghĩ quen thuộc hay có khi còn là một thói quen của mọi người rồi, ngay cả đối với những ai theo chủ nghĩa “vô thần “… và khi đi Lễ chúng ta đều mong muốn được các Đấng Bề Trên chứng giám và phù hộ cho công việc hay cuộc sống của chúng ta được thuận lợi suôn sẻ… Tuy nhiên ít ai hiểu được sâu xa về Ý nghĩa và Cách thức của việc đi LỄ này. Về Ý nghĩa, hiện nay nhiều người vẫn quen miệng nói đi Lễ cần có Tâm là đủ, Tâm chính là ý thức và Tâm sáng hay Tâm tối đều có quyền vào Chùa. Nhưng ít người hiểu được đi Lễ chúng ta cần phải có: ĐỨC+ PHÚC+ TRÍ TUỆ GIÁC NGỘ mới gọi là có VỐN để đi Lễ( giống như đi Chợ phải có tiền). Bởi vậy mới có câu nói* Đức năng thắng Số* và *Phúc chủ Lộc thầy*. Còn về Cách thức, một số điều tuy là đơn giản sau đây nhưng Kiến Phong chắc chắn còn rất nhiều người trong số chúng ta vẫn chưa thể thực hiện cho ĐÚNG và ĐỦ được:
Đi lễ Chùa:
1 . Về diện mạo của Người đi Lễ: Ăn mặc phải chỉnh tề, gọn gàng, kín đáo, thể hiện sự tôn trọng Bề Trên cũng như người xung quanh ở nơi Tôn Nghiêm (nên tránh mặc váy, vì với bất cứ kiếu váy nào cũng sẽ có thể gây bất tiện cho chúng ta khi hành Lễ trước ban thờ …).
2. Về thứ tự làm Lễ tại các Ban Thờ :
+ Vào CHÙA: Chúng ta vào Lễ Ban ĐỨC ÔNG trước ( vì ĐỨC ÔNG có vai trò như THỔ ĐỊA trong ngôi nhà ), sau đó vào Lễ Ban TAM BẢO, rồi sang Ban MẪU và cuối cùng Lễ tại nhà TỔ.
+ Vào ĐÌNH – ĐỀN – PHỦ: Lễ các NGÀI ở 2 bên CỔNG và CỬA trước, khi vào trong chúng ta Lễ tại BAN CÔNG ĐỒNG rồi đến BAN THỜ riêng các NGÀI (tùy theo mỗi mơi THỜ VỊ NÀO ).
3. Về vấn đề ĐỒ LỄ: Không nhất thiết lúc nào cũng phải sắm mâm cao cỗ đầy hoặc phải 1 đĩa đồ lễ, nếu chúng ta THÀNH TÂM thì chỉ cần đặt chút tiền lẻ (nhiều ít tùy tâm – gọi là giọt dầu) thì các NGÀI đã chứng giám cho lòng thành chúng ta rồi. Và nhất là, chúng ta không nên đặt vào tay tượng hay cố gắng “với” để “ném” bằng được đồng tiền lên đĩa, hãy nhẹ nhàng từ tốn, vuốt thẳng tờ tiền rồi cho vào hòm Công đức thì đẹp biết bao !!!…
4. Về vấn đề Khấn Lễ: Kiến Phong chắc chắn trong chúng ta không ít bạn đã từng rất ngưỡng mộ khi thấy một ai đấy( hoặc một thầy cúng) đọc vanh vách một bài Khấn, nghe rất lọt tai, làm mình phân tâm quên hẳn những gì mình đang định khấn. Tuy nhiên, dài nhưng chưa chắc đã đúng và đủ, các bạn chỉ cần tham khảo cách khấn theo 5 điều sau một cách chân thật nhất, toàn tâm toàn ý nhất thiết nghĩ đã là tốt lắm rồi. Sau khi xưng Họ tên – tuổi – địa chỉ… thì chúng ta thực hiện theo thứ tự khấn lễ đó là: TẠ ƠN – SÁM HỐI – CẦU – HỨA – XIN
+ TẠ ƠN: Tạ ơn Cha Trời – Mẹ Đất, Cha mẹ Phật Thánh, Các bậc Tiên Đế Đại Vương, Anh hùng Liệt sỹ, Gia Tiên Tiền Tổ… đã cho chúng con có được ngày hôm nay…
+ SÁM HỐI: Những tội lỗi chúng ta đã gây ra từ tiền kiếp cho đến nay, do Tham – Sân- Si …, mong được các Chư vị đại xá…
+ CẦU: Cầu cho Quốc Thái Dân An – Đất nước ngày càng hưng thịnh phát triển, người người được 2 chữ: BÌNH AN, cầu cho các chân linh Gia tiên tiền tổ họ…(đôi bên nội ngoại là họ gì, VD : Nguyễn, Trần …) sớm được siêu thăng siêu thoát lên cảnh giới cao hơn…
+ HỨA: Sẽ tu học chữ Đạo để làm rạng danh Tiên tổ, nguyện làm nhiều việc thiện để giải Nghiệp cho dòng họ và tạo Phúc cho thế hệ sau…
+ XIN: Dâng lễ và xin cho bản thân mình hoặc gia đinh (tùy việc của mỗi người).
Sau khi Quý vị khấn Lễ, Bề Trên( Cha mẹ Phật Thánh, Gia Tiên…) sẽ truy xét ÂM DƯƠNG công tội (tức là PHÚC ĐỨC) của từng Cá nhân và Gia đình, rồi mới “DUYỆT” những điều các bạn đã xin, tránh hiểu lầm việc lên Đình Đền Chùa cầu xin mãi và thắc mắc tại sao không có Hiệu quả, dẫn đến MẤT LÒNG TIN vào Tâm Linh thì thật là đáng tiếc !
Chuyên giải bùa ngải thư ếm ác , bùa hạnh phúc gia đình , bùa tài lộc , trấn tà ma , chữa bênh vô sinh , sinh con trai theo ý muốn .
ĐT : 0972433018 .0967396549 

GIẢI BÙA YÊU NGẢI YÊU

Pháp sư Võ Thiên Phúc(Vũ Đăng Mạnh Hùng): Chuyên chữa “tâm bệnh”

Thứ tư, 07.10.2015 16:04

Với một số người mắc các căn bệnh khó chữa, không có lối thoát như ung thư, vô sinh, muốn sinh con trai theo ý muốn… khi không còn niềm tin thì chữa trị bằng con đường tâm linh, giải quyết “tâm bệnh” kết hợp với thuốc nam dân tộc Mường đôi khi được cho là cách chữa tốt nhất.


Đến Bắc Ninh, những người bệnh thường hay truyền tai nhau về ông pháp sư trẻ tuổi chuyên chữa bệnh bằng bùa ngải Võ Thiên Phúc (Vũ Đăng Mạnh Hùng) ở xóm Hồ, xã Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Pháp sư đang chữa bệnh cho người dân
Theo lời kể của một số người người trong cuộc có hiểu biết về cách chữa bệnh mang tính tâm linh này: Ông vốn là đệ tử của môn phái Thất Sơn Thần Quyền có khả năng tạo ra các bùa ngải, tuy nhiên ông kết hợp chúng với các bài thuốc nam bí truyền của người Mường mà ông học được tại Lạc Sơn, Hòa Bình có tác dụng giúp cho tình yêu đôi lứa thuận hòa, vợ chồng hòa hợp, mang lại hạnh phúc gia đình, giúp việc buôn bán thương mại được hanh thông, hóa giải các hiện tượng trùng tang, …

Pháp sư Võ Thiên Phúc với khả năng chữa bệnh có mục đích chính là giúp người, cứu người chứ không phải là lợi dụng lòng tin của con người làm điều xấu. Do đó, người dân rất tin tưởng ở phương pháp chữa bệnh của ông. Ngoài ra, pháp sư còn có nhiều các hoạt động thiện nguyện giúp đỡ cho người nghèo, trẻ em gặp khó khăn…

Đóng góp của ông cho sức khỏe cộng đồng đã được ghi nhận
Không sinh hoạt bừa bãi, pháp sư giữ nghiêm các điều trong giới luật của môn phái như kiêng ăn thịt chó, kiêng ăn cá chép, ăn chay trường… đồng thời học  hỏi thêm từ các môn phái khác, các bí quyết của dân tộc Mường để phương pháp chữa bệnh của mình đa dạng, khoa học hơn mang lại hạnh phúc cho mọi người.

Tuy còn trẻ nhưng mong ước của pháp sư Võ Thiên Phúc rất lớn lao: đó là giải thoát bệnh tật cho chúng sinh – đây là lí do nhiều người dân tin tưởng vào chàng thanh niên trẻ tuổi này với một niềm tin tuyệt đối, chính vì lẽ đó, họ khỏi bệnh và phương pháp chữa  bệnh của pháp sư đạt hiệu quả cao bởi khi có niềm tin và cách sống lạc quan, mọi bệnh tật đều có thể được đẩy lùi. Người ta gọi đó là cách chữa “tâm bệnh” là như thế.

Ngoài ra, Pháp sư Võ Thiên Phúc còn là Trưởng ban Câu lạc bộ Đạo Mẫu Thanh Đồng chùa Khánh Lâm và là thủ nhang Đền Mẫu Hoàng Thiên, nơi có Thánh tích Mãng Xà Thần có công hộ trì bà Hồng Đăng Ngàn ( Mẫu Thượng Ngàn ) tu hành, bà là vợ của thuỷ Tổ Kinh Dương Vương ( ông tổ nước Nam ) (vì lí do này Mãng Xà Thần thường được thờ trong các đền phủ). Có thể nói, ông là người góp phần giữ gìn và phát huy văn hoá tâm linh Đạo Mẫu Việt Nam khu vực Bắc Ninh.
Có thể liên lạc với pháp sư Võ Thiên Phúc (Vũ Đăng Mạnh Hùng):
Xóm Hồ, xã Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh
ĐT: 0972433018 - 02413783363 – 0967396549
Trích trên báo : http://vanhoaphapluat.vn/index.php?f=news&do=detail&id=532